Tổng số bài viết: 1
Sắp xếp theo: Hiển thị:
Thứ tư, 05/11/2008 - 10:06:am

Cuộc đời và sự nghiệp
- Thủ khoa Nghĩa còn có hiệu là Nghi Chi (theo một giai thoại do ông Nguyễn Bản kể lại thì bút hiệu Nghi Chi lấy ý từ một câu sách xưa: “nghĩa giã nghi chi”, ý là “cái nghĩa là những gì để làm mẩu mực cho mọi người”. Cụ sinh năm Đinh Mão (1807) tại thôn Long Tuyền, tổng Định Thới, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. (nay là phường An Thới- quận Bình Thuỷ- Tp.Cần Thơ). Thân sinh của cụ là ông Bùi Hữu Vi, làm nghề chày lưới. Thuở nhỏ cụ vốn thông minh, ham học hỏi. Năm 18 tuổi cụ được gia đình cho lên trọ học nhà ông Nguyễn Văn Lý ở Biên Hoà, thọ giáo với thầy Nguyễn Phạm Hoành, tục gọi là Đồ Hoành.
- Tháng 2 năm Ất Vị (1835) cụ dự kì thi hương ở Gia Định và đỗ giãi nguyên năm đó. Lúc này thì ông Nguyễn Văn Lý ngỏ ý gã ái nữ là bà Nguyễn Thị Tồn cho cụ, nhưng cụ xin khất lại vì có ý muốn tiếp tục lo việc đèn sách cho kì thi hội.
- Năm 1836 triều đình mở khoa thi hội nhưng vì lúc đó cụ đang bệnh nặng nên đành bỏ lỡ kì thi.
- Một thời gian sau, cụ được bổ làm tri huyện phủ Phước Long. Lúc bấy giờ cụ chính thức kết hôn với bà Nguyễn Thị Tồn.
- Cụ là vị quan thanh liêm trong nền quân chủ bất lực, đa số các quan chức chỉ mưu tính lợi riêng, hà hiếp nhân dân. Giữa lúc đang cảm thấy chán trường bế tắc thì triều đình thuyên cụ về trấn nhậm phủ Trà Vang (tức Trà Vinh), một nơi rất xa kinh kì, thuộc tỉnh Vĩnh Long, dưới quyền cai quản của tổng đốc Trương Văn Uyển và Bố Chánh Truyện, điều là bọn tham quan, hống hách.
- Do tính cương trưc, thương dân, luôn chống lại các thế lực cường hào, có lần cụ đã cho đánh đòn một vị công tử cậy thế là em vợ của quan Bố Chánh Truyện mà xất xược với cụ. Từ đó cụ đã gây thù với quan trên và chuốt mối hoạ vào mình.
- Qua sự kiện xung đột của một số cư dân gốc Hoa với người Cao Miên ở Trà Vang về việc tranh giành rạch Láng Thé. (Nguyên lúc xưa, khi vua Gia Long - Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, khi chạy đến Trà Vang đã chịu sự giúp đỡ lương thực của người dân Cao Miên ở đây, sau khi lên ngôi, để trả ơn vua Gia Long đã xuống chiếu miễn thuế thuỷ lợi vĩnh viễn rạch Láng Thé cho dân Cao Miên. Vì tham nguồn lợi cá nơi đây, bọn địa chủ gốc Hoa đã lo lót với quan đầu tỉnh mua lại rạch Láng Thé. Uất ức, dân Cao Miên kéo đến thưa vơi tri huyện Nghĩa, bấy giờ cụ nói với dân Cao Miên rằng “rạch Láng Thé đã được Thế Tổ Cao Hoàng Đế ban cho thì các ngươi cứ giữ lấy, nay nếu ai lớn hơn vua đứng ra bán rạch ấy thì các ngươi phải cam chịu, còn nếu ai nhỏ hơn vua mà bán rạch ấy thì dù có chém chết nó cũng không sau”. Được lời chỉ bảo dân Cao Miên kéo nhau ra rạch tranh chấp với bọn người Hoa, cuộc xô xác diễn ra kết quả là gần chục người bị chết chém) Tổng đốc Trương Văn Uyển cho lính bắt một số người có liên quan và bắt cả cụ về giam ở Vĩnh Long rồi giải về Gia Định, đệ sớ lên triều đình tố cáo cụ kích động dân Cao Miên làm loạn, giết người.
- Đứng trước nổi oan của chồng, bà Nguyễn Thị Tồn một mình lặn lội ra tận Huế để kêu oan.
- Tới kinh đô Huế bà xin vào gặp quan lể bộ thượng thư Phan Thanh Giản, giúp bà viết sớ. Rồi đến Tam Pháp ti gióng trống kêu oan.
- Vua Tự Đức cho bộ hình điều tra lại và tha tội chết cho cụ. Để đoái công chuộc tội cụ được cử nhận chức Thủ Ngư ở trấn Vĩnh Thông (Châu Đốc) để dẹp loạn quân khởi nghĩa Cao Miên tại đây.
- Về bà Nguyễn Thị Tồn, sau khi giải oan cho chồng, thái hậu Từ Dụ vì cảm mến lòng dũng cãm và trung liệt của bà nên phong tặng bà danh hiệu “Liệt Phụ Khả Gia”. Sau đó bà rời kinh đô về thẳng Biên Hoà, ít lâu sau lâm bệnh nặng và qua đời tại nhà cha ruột.
- Cụ Bùi Hữu Nghĩa hay tin vợ mất nhưng không về ngay được. Đến khi cụ về thì việc tống táng đã xong. Cụ thương cảm viết một bài văn tế với lời lẻ thật thống thiết và đôi liễn khóc vợ:
“Ngã bần khanh năng trợ, ngã oan khanh năng minh
Triều giả giai xưng khanh thị phụ.
Khanh bệnh ngã bất dược, khanh tử ngã bất táng
Giang sơn ưng tiếu ngã phi phu.”
dịch nghĩa:
“Tớ nghèo mình lo giúp. Tớ oan mình lo kêu.
Chòm xóm đều khen mình đáng vợ
Mình đau tớ chẳng nuôi, mình chết tớ chẳng táng.
Non sông thẹn tớ làm chồng.”
- Sau khi tang ma cho vợ, cụ trở về đồn Vĩnh Thông.
- Chán ngán cảnh quan trường đầy tham ô, bất công. Năm 1862, khi triều đình kí hoà ước cắt 3 tỉnh Miền Đông cho Pháp, cụ bất mãn xin từ quan.
- Cụ trở về quê Bình Thuỷ mở trường dạy học. Tham gia vào Tao Đàn Bà Đồ do bà Nguyễn Thị Nguyệt sáng lập, giao du với những bạn bè đồng chí hướng như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị,…
- Sau một thời gian sống nơi quê nhà, sức khoẻ cụ yếu dần. Ngày 21 tháng giêng năm 1872 cụ qua đời, hưởng thọ 65 tuổi.
Dù đã từ giả cõi đời nhưng thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa đã để lại trong kho tàn văn học Việt
Một số tác phẩm tiêu biểu
Cao lớn làm chi bần hỡi bần?
Uổng sanh trong thế đứng chần ngần.
Lá xanh tợ liễu nhành thưa thớt
Bàng bạc dường mai nhuỵ sượng sần.
Quyến luyến bầy cò bay sập sân
Chiêu quy đàn khỉ tới vần lân.
Rường soi cột trỗ chưa nên mặt
Cao lớn làm chi bần hỡi bần!
Ai khiến thằng tây tới vậy à?
Đất bằng bổng chốc nổi phong ba
Hẳn hòi ít mặt đền ơn nước
Nháo nhác nhiều tay bận nổi nhà.
Sắt đá ôm lòng cam với trẻ
Nước non có mắt thấy cho già.
Báo quốc cần vương há một ta.
Đã chẳng ba năm mới đặng thăm
Màn loan đâu văng bặt hơi tăm.
Gió đưa đâu thấy hình dương liễu
Đêm vắng ai hoài tiếng sắc cầm.
Chồng nhớ vợ lòng tơ bối rối
Con thương mẹ luỵ ngọc tuôn đầm.
Có linh chín suối đừng xao lãng
Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm.
Bên cạnh những áng thơ hay, đầy ý nghĩa, cụ Bùi Hữu Nghĩa còn để lại cho đời một kiệt tác sân khấu đó là vở tuồng “Kim Thạch kỳ duyên” rất có tiếng vang. Đích thân vua Tự Đức đã đến xem khi vở tuồng này được diển ở kinh đô Huế.
Tóm tắc nội dung : “Kim Thạch Kỳ Duyên”
Kim Ngọc là con trai của tri huyện Ngạn Yêm, tri huyện Bồ Thành, đã hứa hôn với Ái Châu, con gái nhà phú hộ Lâm Vượng.
Ngạn Yêm trên đường đi trấn nhậm thì bị giặc Tiêu Hoá Long băt giử. Kim Ngọc nhay xuống sông, may thay được tiểu đồng trung tín của mình cứu sống, song mắc phải bệnh phung.
Kim Ngọc dưỡng bệnh trong chùa 3 năm vẩn không khỏi, chàng về quê củ xin cưới Ái Châu. Ái Châu chê chàng bệnh phung không chịu lấy. Lâm Vượng đem nử tỳ là Thạch Vô Hà gã thế (Vô Hà là con của thầy lang Thạch Đạo Toàn). Sau khi Kim Ngọc kết hôn với Vô Hà, cha nàng đã chửa cho chàng khỏi bệnh. Chàng vào kinh đô ứng thí và thi đổ trạng nguyên.
Tể tướng Lư Khải Phong có ý muốn gã con gái cho chàng nhưng chàng từ chối. Khải Phong tức giận, tâu với vua cử Kim Ngọc đi dẹp giặc Tiêu Hoá Long. Nhờ sự giúp đở của Ngạn Yêm (cha chàng vốn bị bắt lúc trước) và con ghẻ của Tiêu Hoá Long là Thuần Cương, Kim Ngọc thắng trận. Tiêu Hoá Long bị bêu đầu. Khải Phong thông tình với giặc, bị phát hiện và bị xử “tam ban triều điển”.
Đầu Đà (em của Lư Khả Phong) chiêu binh làm loạn, trả thù cho anh. Kim Ngọc dẹp tan gặc Đầu Đà, được vua thăng chức tước.
Ái Châu kết duyên với Ái Lang, con trai tri huyện Lợi Đồ, tri huyện tham nhủng bị kiện, bị giam, gia sản của hắn và của ông xui Lâm Vượng đều bị tịch biên.
Trong khi đó, Vô Hà sanh con trai cần tìm nhủ mẩu cho con, bà mụ đem một người con gái đến bán, không ngờ đó là Ái Châu. Ái Châu không biết tội lổi, lại dùng lời quyến rủ Kim Ngọc, bị Kim Ngọc đuổi ra khỏi nhà. Sau đó Ái Châu bị bán vào lầu xanh, vướng phải bệnh phong tình.
Khi thấy Thạch Vô Hà trở thành mệnh phụ cao sang, Ái Châu ghen uất treo cổ tự vẩn. Kim Ngọc hay tin cho người chôn cất Ái Châu.
Tư cách và đạo đức của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, tư tưởng yêu nước, yêu dân, tình cảm gắn bó của cụ với quê hương xứ sở thể hiện trong cuộc sống (trong lúc làm quan cũng như thất thế) và trong những tác phẩm của cụ, khiến người đương thời và các thế hệ sau rất tôn trọng và yêu quý.
Đã hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng tên tuổi và sự nghiệp của cụ vẫn là vần hào quang tỏa sáng cho nền văn hóa nghệ thuật nước nhà. Cụ đã trải qua bao thăng trầm của đất nước, cụ luôn bảo vệ công lý, lẻ phải và luôn sống vì nhân dân, thơ của cụ là vũ khí chống lại bè lũ tay sai bán nước và thực dân xâm lược, thơ của cụ cũng cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân ta, cụ đúng là tấm gương sáng là nhà văn tiền bối được nhiều người nhắc nhở.
Đúng với câu ca dao vẫn truyền tụng lâu nay:
“Đồng Nai có 4 rồng vàng
Lộc Họa, Lễ Phú, Sang Đàn, Nghĩa thi”.
