Với vai trò mới của mình trong vùng Ðông Nam Á về kinh tế cũng như ảnh hưởng về chính trị, cộng thêm với khả năng phát phát triển của lực lượng hải quân đã tiệm cận với Nga Mỹ.Trung Quốc đã đặt nặng vấn đề bành trướng chủ quyền trên mặt biển như một trọng tâm trong tiến trình trở thành một siêu cường trong thế kỷ tới,một trật tự thế giới mới.
Về chiến lược của VN đối phó với anh Trung Hoa thì quá tầm của tôi, tôi không dám bàn. Vấn đề này cực kỳ phức tạp và khó chịu, không phải cứ “đàn bà cũng đánh” hay là “cho Mỹ lập căn cứ quân sự”OR “tẩy chay bọn Tàu” là được.Việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Á để quản lý các Quận đảo Hoàng Sa Trường Sa,bắt đầu khai thác du lịch ở Hoàng Sa…làm tôi nhớ lại
trận Hải chiến Hoàng Sa ngày ấy ( huu...u'…xoẹt,bùm... pằng chiu' pằng pằng pằng chíuuu…)
Vài diều muốn trao đổi.#
Một trong những nghiên cứu mới nhất được công bố về Hoàng Sa là luận án tiến sĩ của ông Nguyễn Nhã, đề tài Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bảo vệ ngày 18 tháng 1 năm 2003 (29 năm sau trận hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hòa) tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. Ông Nguyễn Nhã nói: "Với luận án tiến sĩ này, tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc, có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi"
Luận án của ông Nguyễn Nhã : http://www.cse.buffalo.edu/~hungngo/BD/Nguyen-Nha-Thesis/
Hải chiến Hoàng sa Tương quan lực lượng Phía Việt Nam có Soaí hạm Trần Bình Trọng (HQ-5), Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4), Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10), một đại đội hải kích thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, một số biệt hải (biệt kích hải quân) và một trung đội địa phương quân đang trú phòng tại đảo Hoàng Sa.
Phía Trung Quốc có Liệp tiềm đĩnh số 274, Liệp tiềm đĩnh số 271, Tảo lôi hạm số 389, Tảo lôi hạm số 391, Liệp tiềm đĩnh số 282, Liệp tiềm đĩnh số 281 và hai chiến hạm số 402 và số 407 chở quân (không rõ loại), Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 10 Hải quân lục chiến, và hai đội trinh sát.
Liệp Tiềm Lĩnh 271,chụp từ chiến hạm VNCH
Poster Hải chiến Hoàng Sa của Trung Quốc
Diễn tiến Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt sau khi đưa một phái đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa thăm dò một số đảo Hoàng Sa phát hiện hai chiến hạm số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần Cam Tuyền, và phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng hoặc cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc. Sau khi cấp báo về Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng, HQ-16 dùng quang hiệu yêu cầu các chiến hạm Trung Quốc rời lãnh hải Việt Nam. Các chiến hạm Trung Quốc không rời vùng, và cũng dùng quang hiệu yêu cầu phía Việt Nam Cộng hòa rời lãnh hải Trung Quốc.
Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa đổ bộ một toán biệt hải và một đội hải kích xuống Cam Tuyền để nhổ cờ Trung Quốc. Sau đó các chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa rút trở lên tàu.
Cùng trong ngày Liệp tiềm đĩnh số 274 và Liệp tiềm đĩnh số 271 của Trung Quốc xuất hiện. Soái hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) Ngày 18 tháng 1 năm 1974, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân Việt Nam Cộng hòa bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để trực tiếp chỉ huy trận đánh.
Ông ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc. Lực lượng hành quân Hoàng Sa 1 được tăng cường thêm Tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) làm soái hạm cho cuộc hành quân, và Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10). Do hải hành lâu ngày chưa kịp tu bổ, HQ-10 tham chiến với một máy bất khiển dụng, chỉ còn một máy hoạt động.
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, các nhóm biệt hải và hải kích của Việt Nam Cộng hòa từ HQ-5 đổ quân lên mặt Nam đảo Quang Hòa, Hải quân Trung Quốc đổ quân xuống mặt Bắc đảo. Hai bên giao tranh và phía Việt Nam Cộng hòa có 3 chết và 2 bị thương. Do quân Trung Quốc quá đông, quân Việt Nam Cộng hòa rút trở lên HQ-5.
Ngay sau đó chiến hạm hai bên triển khai đội hình gần đảo Quang Hòa và chiến hạm Việt Nam Cộng hòa khai hỏa trước. Hai bên chạm súng từ 30 đến 45 phút, cùng thời điểm đó Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận được thông báo của Văn phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ (DAO) tại Sài Gòn, cho biết radar Đệ thất Hạm đội ghi nhận một số phóng lôi hạm (guided missile frigate) và chiến đấu cơ MIG từ Hải Nam đang tiến về phía Hoàng Sa. Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa sau đó yêu cầu Đệ thất Hạm đội trợ giúp, nhưng không thành công. Các chiến hạm Việt Nam Cộng hòa được lệnh rút bỏ quần đảo Hoàng Sa. Kết quả
Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ thời điểm này
Phản ứng trước vụ việc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ tuyên bố rằng "các nước liên quan nên giải quyết mâu thuẫn bằng đàm phán trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, và quan hệ láng giềng". Họ đã không thể làm gì hơn, do tại thời điểm giữa cuộc chiến tranh đó, họ vẫn cần đến viện trợ quân sự và kinh tế của Trung Quốc.
Ngày nay trên các hải đồ biển...
...Trung Quốc coi toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa là South China Sea,và nó đã phổ cập dùng cho hải đồ thế giới,còn hải đồ Việt Nam thay vì phải "dân vận" là East Việt Nam Sea ,mìn vẫn ghi khiêm tốn 1 cách vô chủ "Biển Đông"
Ta vẫn khẳng định chủ quyền ở Hoàng sa nhưng thực tế từ sau Hải chiến Hoàng Sa Trung quốc đã kịp xây dựng 1 căn cứ quân sự quy mô giống như Game đế chế ý nhở ,làm bàn đạp bành trướng khu vực biển đông, à nhầm khu vực East Việt Nam Sea
Đảo Phú Lâm chụp từ tiện ích của Google
Hiện nay Trung Quốc đặt Bộ chỉ huy toàn thể lực lượng quân trú phòng quần đảo Hoàng Sa ở đây. Căn cứ quân sự này kiên cố nhất trên Biển Đông. Sách Ocean Yearbook 10 (Chicago 1993) cho biết có tới 4.000 binh sĩ Hải quân và Thủy quân Lục chiến trong vùng biển Hoàng Sa. Phần lớn số lính này đóng tại Đảo Phú Lâm, số nhỏ trên đảo Lincoln và các đảo thuộc nhóm Trăng-Khuyết.
Đảo có cầu tàu lớn, phi trường, đài kiểm báo, kênh đào và nhiều tiện nghi,khí tài quân sự khác.
Hậu quả là các bác ngư dân nhà mình (xem ảnh dưới)
Sự thật là Trung Quốc khó có thể đấu lý với ta về chủ quyền biển khu vực này,hành đọng đóng quân ở Hoàng Sa cũng đi ngược lại với Tuyên bố của chính phủ 2 nước trước đó.Cụ thể:
• Ngày 4 tháng 9 năm 1958: Chu Ân Lai, Thủ tướng nước CHNDTH công khai tuyên bố với quốc tế về quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Hoa Lục, có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
• Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã công nhận bản tuyên cáo trên của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên các quần đảo biển Đông. Ông đã viết công hàm ngày 14 tháng 9 và cho đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 năm 1958, với nội dung: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hải phận của Trung quốc"[5]. Ngoài ra, sau này, Trung Quốc cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận nhượng biển của Hà Nội.(Xem thêm trên Wikimedia)