Tổng số bài viết: 37
Sắp xếp theo: Hiển thị:
Chủ nhật, 09/08/2009 - 01:14:pm

1 Đừng quá xem trọng điều gì. Hãy tiếp nhận mọi sự may rủi một cách nhẹ nhàng( Jepfecson).
2 "Trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống, đừng cố gắng trở thành một người thành công hay hạnh phúc, tốt hơn hãy trở thành một người có giá trị" (Albert Einstein).
3 Không nên bày tỏ những lo âu và thất bại của bạn cho những người bạn nghe. Tốt hơn hết nên kể với những kẻ thù của bạn – ít ra thì bạn cũng cung cấp cho họ những phút giây thoải mái, ngoài ra, bạn còn chắc rằng: họ sẽ dỏng tai lên mà nghe bằng hết những lời nói của bạn. (B.Sou)
4 Người có đạo đức thì luôn kính trọng các bậc đạo đức hơn mình. Người mà không biết kính trọng các bậc đạo đức thì phải biết rằng đạo đức của mình vẫn còn kém dở.
5 Thế giới này đầy ắp những đau khổ là do người ta chỉ biết sống cho mình, hướng về mình.
6 Đừng khóc vì nước mắt chỉ làm đấy thêm bể khổ, đừng cười vì ngạo mạn sẽ làm tan vỡ cả tương lai.
7 Nếu không biết cúi xuống để nhặt một cây kim thì đừng nghĩ rằng sau này sẽ làm được việc lớn; Nếu chưa thể tiết kiệm vài số điện ở bóng đèn, cái quạt trong nhà thì đừng nghĩ rằng sau này mình sẽ giàu.
8 Kẻ nào nghĩ mình là giỏi, thì biết rằng kẻ ấy vẫn còn quá ngu dốt. Người nào nghĩ mình vẫn còn kém cỏi mà vẫn không tự ti, luôn cố gắng thì đó là 1 suy nghĩ đúng.
9 Người kiêu mạn hay bị những tai nạn bất ngờ, càng kiêu mạn càng thêm đau khổ. Người khiêm hạ thường có nhiều niềm vui bất ngờ! Càng khiêm hạ bao nhiêu càng hạnh phúc bấy nhiêu.
10 Người không khoe khoang chưa biết họ tốt hay xấu nhưng là người có bản lĩnh, biết giấu kín thực lực của mình.
11 Đừng tiêu xài hết tiền bạn đang có, không nên muốn ngủ bao lâu thì ngủ.
12 Cuộc sống của chúng ta có lắm thăng trầm. Thăng vì đôi lúc chúng ta biết khiêm hạ nhưng trầm vì chúng ta còn mắc bệnh khoe khoang.
13 Nếu thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc. ( Platon).
14 Người hay nói dối thì không có việc xấu gì mà người đó không thể làm.
15 Khi khoe khoang điều hay thì những điều đang có sẽ mất, đang đến sẽ không đến nữa, việc đang làm sẽ không làm được và thường gặp nhiều rủi ro, bất trắc.
16 Biết đủ không nhục, biết dừng không nguy. Như thế có thể giữ được lâu dài.( Lão Tử).
17 Người nào hay bị kích động, người đó có một tinh thần yếu đuối. Người nào không bị kích động, người đó có một tinh thần mạnh mẽ.
18 Hãy khôn ngoan như rắn và hiền lành như chim bồ câu!
19 Hãy có thái độ không sợ hãi của một anh hùng và trái tim thương yêu của một trẻ thơ.
20 Việc gì trong đời sống cũng khó khǎn cả, vì chưa thành thói quen khi đã có thói quen thì việc gì cũng không khó.
21 Trên sân khấu chỉ có kẻ bại trận mới ngồi nói dai. Kẻ thắng trận đã mĩm cười bỏ đi mất với chiến lợi phẩm.
22 Can đảm không phải là dám chết mà là dám sống và làm ích lợi cho đời.
23 "Có nhiều điều kỳ diệu chợt đến trong cuộc sống, nhưng hầu hết những điều tuyệt vời trong đời là do ta thận trọng vun đắp, nỗ lực đeo đuổi hoặc đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ mới có được."
24 Người trí thì sự vui hay sự khổ không làm cho bồng bột hay suy sụp.
25 Con người ta giỏi lên phần nhiều nhờ lúc thực hành, chứ không phải lúc học.
26 Người không chịu sửa mình mà muốn có tiếng thơm để đời thì khác nào mặt xấu mà muốn có cái hình đẹp trong gương.
27 Người có trí tuệ càng cao thì càng thấy mình nhỏ bé.
28 Cổ nhân dạy: "Y nghĩa bất y ngữ". Nghĩa là chúng ta không nên bận tâm với những lời nói, những câu văn không có ý nghĩa gì cả. Thí dụ như có người nói chúng ta ngu như con bò, nếu chúng ta nổi giận, thì quả là chúng ta ngu thực rồi, còn gì nói nữa. Những câu nói vô nghĩa tương tự khó có thể làm động tâm những người cố gắng tìm hiểu đạo lý.
29 Cái gì cũng nói biết nghĩa là không biết gì cả( Tục ngữ Anh).
30 Ngu ngốc không phải là do thiếu kiến thức, không phải là do không muốn học mà do tin rằng đã biết hết tất cả. (Anita Joachim-Daniel).
31 Nếu không tìm thấy hạnh phúc ngay trong chính bản thân mình thì không thể tìm được ở nơi nào khác( Agnes replier).
32 Nếu còn tin ở đất đai
Bao nhiêu gánh nặng trên vai cũng thường
Nếu còn là kẻ bất lương
Bao nhiêu bão tố mười phương đổ vào.
33 Chúng ta không yêu quý điều gì, thì điều đó sẽ rời khỏi tầm tay của chúng ta.
34 Chẳng gìn giữ hạnh nhỏ, tất lụy đến đức lớn.
35 Người vượt đèn đỏ là người đã có hành vi ăn cắp (thậm chí ăn cướp) quyền sử dụng đèn xanh của người khác.
36 Cố gắng là sức mạnh của tinh thần nhưng không phải tự nhiên mà có. Chúng ta phải rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ. Khi đã qua thời tuổi trẻ, chúng ta rất khó rèn luyện vì Ý chí sẽ không khởi được nữa. Bởi vậy, khi còn trẻ, nếu có được những cảnh khổ để rèn luyện, chúng ta nên xem đó là một diễm phúc của cuộc đời. Phần lớn những người có một thời tuổi trẻ sung sướng là những người không có ý chí, nghị lực. Những người ấy chưa biết cố gắng là gì nên rất dễ dàng chùn bước trước khó khăn hay gục ngã trước hoàn cảnh.
37 Người có tâm tự mãn, tự hào thầm kín giống như cái đĩa cạn, nước không thể rót được nhiều.
38 "Hạnh phúc là sự bình an của tâm hồn, không phải ở những trò vui giả tạo hay cuồng dại."
39 Không làm điều mình thích, Chỉ làm điều có ích!
40 Sự tôn trọng không đến từ công việc mà bạn đang làm, nó đến từ cái cách mà bạn đang làm công việc đó.
41 Người mà sống buông thả, bừa bãi, lười biếng là người có nội tâm không chặt chẽ được. Nội tâm cẩu thả, lười biếng là người không chiến thắng được bản thân. Ngay đến thói lười biếng, cẩu thả còn không chiến thắng được thì dĩ nhiên, phần nhiều ta biết rằng họ không chiến thắng được ngoại cảnh, những tác động từ bên ngoài, nói cách khác là dễ bị kích động.
42 Người không bị kích động là người có một nội tâm mạnh mẽ, trong những hoàn cảnh bất ngờ, những biến cố dữ dội vẫn giữ được sự bình tĩnh, sáng suốt không cuốn theo hoàn cảnh và không đau khổ.
43 Bạn có thể không thể lựa chọn được những gì xảy đến với mình nhưng bạn hoàn toàn có thể lựa chọn thái độ tích cực nhất để đối mặt với chúng.
44 Con người ta khi chưa thành danh, phải tập sống tiết tháo, theo khuôn mẫu, phép tắc, ước thúc bản thân vì sống bừa bãi, phóng dật thì sau này khó tiến bộ.
45 Người nào mà đạo đức không vững vàng thì khi gặp cơ hội rất dễ làm chuyện sai trái, lầm lỗi.
46 Khi ta chưa có địa vị, ai nói gì mình cũng nhịn được, nhưng có địa vị rồi, tâm lại trở nên hẹp hòi, cho nên được ca ngợi thì mình mới vui, ai xem thường thì mình khổ đau.
47 Sự cảm phục về người này chỉ xuất hiện trong tâm người kia nhưng có thể làm cho họ sung sướng khi biết người khác cảm phục mình.
48 Một người nghĩ mình giỏi, đôi khi là do họ tự nghĩ mình giỏi, chỉ là cảm xúc và đánh giá cá nhân, không hoàn toàn bởi sự công nhận của những người khác.
49 Thích nói ra những cái hay, cái tốt của mình cho người khác biết, đó là tâm lý thường tình của con người. Vì người ta nghĩ rằng, những điều đó làm cho họ tăng thêm giá trị và khiến người khác phải nể phục. Tâm lý thèm khát sự cảm phục của người khác là tâm lý rất mãnh liệt của con người.
50 Làm việc khó bắt đầu nơi chỗ dễ. Làm việc lớn bắt đầu nơi chỗ nhỏ”. Chính vì săn sóc, chăm lo cho những điều nhỏ mà làm được những điều lớn bất ngờ. Bắt đầu từ những việc làm căn bản, nhỏ bé mà thiết thực. Giọt nước chảy lâu cũng làm thủng cối đá. Lỗ mọt nhỏ cũng có thể làm chìm thuyền. Điều thiện cũng như điều ác cũng đều nên được ý thức từ những điều rất nhỏ.
51 Nếu cái nhỏ gì cũng xem thường, để cho qua loa thì sẽ có ngày trở thành những cái khó lớn. Biết khó mà không xem thường thì có thể đối mặt với mọi hoàn cảnh mà không rơi vào sự lúng túng, dao động. Biết nhỏ thì có thể lấy mềm buộc chặt, lấy ít ngăn chế nhiều.
52 Người hiểu đạo trị luôn giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ. Cho nên người đắc đạo trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn.
53 Người tài không lộ tướng, lộ tướng thì không phải người tài! Người có bản lĩnh khác thường thì tính tình kín đáo, chẳng mấy ai nhìn ra được.
54 Người có thể tiến bộ thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được. Khi thấy mình là giỏi nhất thì không còn học hỏi được nữa( vì mình đã là nhất rồi). Khi xem xét sự vật, không được quên mặt đối lập của nó. Nghĩ đến cái hữu hạn thì đừng quên cái vô hạn.
55 Người không ham giàu thì nghèo không là nỗi khổ; không thương yêu thì xa nhau không tiếc nhớ; không ghét nhau thì gần nhau không bực bội; không tự ái thì bị nhục mạ không khó chịu; không cần danh vọng thì mất chức không là nỗi bận tâm.
56 Đừng bị kích động trong những trường hợp khẩn cấp. Hãy giữ đôi chân của bạn trên mặt đất.
57 Giới hạn việc vay mượn: Những người sống bằng tiền vay mượn và thẻ tín dụng sẽ không thể giàu được. Do đó không nên vay mượn một khoản tiền lớn để tiêu dùng hay đầu tư. Cũng không nên thế chấp. Nhiều người cứ tưởng mình quản lý được nợ nần nhưng lại khốn đốn vì chúng tốt nhất là chỉ mượn đến số tiền bạn có thể trả và hãy đầu tư bằng tiền tiết kiệm của chính mình.
58 Người ta buồn vì có vui (hết vui thì thấy buồn) và người ta vui vì có buồn (hết buồn thì thấy vui). Chỉ có những người thiết lập được sự bình an, tâm tư lắng đọng không bị cảnh bên ngoài chi phối, vượt lên sự buồn vui thường tình mới thực sự vững chải, an trú trong hạnh phúc và tịnh lạc.
59 Đối với những người nóng giận, nhìn thái độ biểu hiện bên ngoài, tưởng chừng những người hay giận dữ có một bản tính mạnh mẽ, nhưng thực chất, họ có một nội tâm yếu ớt. Vì tâm và thân vốn ngược nhau. Người có thân mạnh là người làm được nhiều việc, hăng hái, năng nổ nhưng tâm chưa hẳn đã mạnh. Tâm mạnh là tâm trầm tĩnh, không dễ dàng bị kích động.
60 Người sâu sắc thường biết mà tỏ ra không biết, đó là buông xả. Họ biết nhưng không cố chấp cái biết của mình, vẫn ưu ái, thương yêu mọi người. Nếu như các vị Thánh lúc nào cũng biết mà tỏ ra biết, chúng ta sẽ không bao giờ dám đến gần họ. Ở đây, biết mà như không biết, sâu sắc mà buông xả là xuất phát từ tâm từ bi, tâm thanh tịnh. Đó cũng là tế hạnh. Vì vậy, người chưa có tế hạnh, chưa kín đáo thường hay bộc lộ sự hiểu biết của mình trước mặt mọi người.
61 Ta phải sống khiêm hạ nhưng không hèn hạ, khúm núm. Khi gặp người khác, chúng ta luôn tôn trọng họ nhưng tuyệt đối không khúm núm, không có thái độ của một kẻ cầu cạnh vì đó là thái độ của người mất tư cách.
62 Người quân tử khi tai họa đến thì không sợ, khi phúc đến thì không mừng. (Khổng Tử).
63 Khi sống sung túc, phẩm hạnh lớn nhất là sự điều độ,
Khi gặp tai họa phẩm hạnh lớn nhất là kiên cường(Ba con ).
64 Sự trả thù là dấu hiệu của một tinh thần yếu ớt, bất lực không thể chịu đựng được những sự lăng mạ.( La Rochefoucaulol).
65 Ngưỡng cửa dẫn đến ngôi nhà khôn ngoan đó là sự tự hiểu mình còn ngu dốt.
66 Vấn đề không phải là chúng ta sống bao lâu mà sống như thế nào.( Balley).
67 Người hay nói dối thì không có việc xấu gì mà người đó không dám làm.
Như con voi lâm trận biết bảo vệ cái vòi là biết giữ mạng sống; nếu nó dùng luôn cả cái vòi tức đã thí mạng, không có gì nó không làm. Cũng vậy, kẻ cố ý nói dối thì không còn chừa điều ác nào.
68 Tuyệt vọng chính là một sự kiện ghê gớm mà ta cần phải tránh. Đôi khi sự tuyệt vọng, ngã lòng, thối chí có thể dẫn đến việc tìm một lối thoát bằng cách tự tử. Đó là một hành động sai lầm, có tính cách nhất thời, làm lỡ mất cơ hội sửa đổi và làm lại từ đầu. Hãy bắt tay làm lại từ đầu, đạt được kết quả từng ít một, đó là những thứ “của mình”, dù sao ít còn hơn không. Nếu tự tử hay tuyệt vọng mà buông xuôi, cái mà ta có vẫn chỉ là con số không.
69 Khi nghe khen, chớ vội mừng; khi nghe chê cũng chớ vội buồn; vì vui buồn theo khen chê, cả hai đều làm cho ta sa đọa.
70 Hầu hết những người có nhiều đam mê hưởng thụ đều có tính ích kỷ cao.
71 Làm việc nhỏ mà không ra gì thì làm việc lớn cũng khó thành công.
72 Có nhiều người đã dùng nửa đầu cuộc đời mình để làm cho nửa sau trở nên thảm hại và đê hèn.
73 Ngay cả những thứ làm cho ta cảm giác thoải mái, thích thú và những thứ cho ta cảm giác bực bội khó chịu( nóng giận), thì cũng đều không thực sự có một chút giá trị gì cả. Ta sẽ thấy : "Ô, đâu có gì trong cái cảm giác thích thú nầy. Ðây chỉ là một thứ cảm giác xuất hiện rồi sẽ biến mất. Cảm giác không thích( nóng giận) cũng vậy, nó chỉ là một cảm giác có rồi mất. Thế thì tại sao chúng ta phải rắc rối với chúng cơ chứ?".
74 Khi ta tiêu diệt được sự nóng giận trong ta, thì tất cả mọi kẻ thù của ta ở bên ngoài đều bị tiêu diệt.
75 Hãy tự mình làm chỗ nương tựa cho mình! Người khác thì làm chỗ nương tựa cho mình sao được? Và chính sự khéo tự chế ngự là chỗ nương tựa khó có. ( Lời Phật dạy).
76 Khi nghe thấy lời chê bai, trước tiên phải biết kẻ đi chê người là hạng người thế nào đã.
77 Đại thần bị vua Kiệt, vua Trụ phế bỏ thì không hẳn là ngu xuẩn thật sự; bị vua Nghiêu, vua Thuấn phế bỏ mới là bất tài thật sự. Lời nói xấu và lời khen ngợi của thế tục quả thực không đáng tin.
78 Giàu có không ước hẹn với kiêu ngạo, nhưng kiêu ngạo sẽ tự tìm đến với giàu có; kiêu ngạo và tử vong không liên quan với nhau, nhưng tử vong cũng sẽ tìm đến với kiêu ngạo. Kết cục bi thảm lấy kiêu ngạo làm điềm báo trước; diệt vong lấy kiêu sa xuất hiện để xác định. Thiên hạ thái bình, tự nhiên thói kiêu sa sẽ dễ xuất hiện; kiêu ngạo xa xỉ tự nhiên sẽ dẫn đến nguy nạn diệt vong.
79 Một số người tuỳ tiện hứa hẹn với người khác, không giữ chữ tín, họ xem sự việc quá dễ dãi, tất phải gặp khó khăn; còn thánh nhân, thường chú trọng khó khăn cao độ, cho nên họ không bao giờ gặp bất cứ khó khăn nào. ( Lão Tử).
80 Tốc độ của tên bay rất nhanh, nhưng tầm bắn lại không quá hai dặm, vì nó bay một đoạn sẽ dừng lại; tốc độ bước đi rất chậm, nhưng có thể đi đến mấy trăm dặm, vì bước đi không ngừng. Vô luận làm việc gì, điều quý ở chỗ kiên trì đến cùng, chỉ cần giữ được thái độ đó thì cho dù người bình thường có thể đạt được thành tích rất tốt.
81 Con tuấn mã ngày vượt ngàn dặm, là nhờ chiếc xe nhẹ; vác nhiều chở nặng đi một ngày không đến vài dặm, vì vác chở quá sức. Bất luận làm việc gì, kể cả học tập, đều không được gánh vác quá sức, nếu không thì cho dù người có bản lĩnh đến đâu cũng sẽ bị gục ngã.
82 Người thông minh tài trí, phải dùng ngu xuẩn để tự thủ; người đa văn thiên biện, phải dùng thiển lậu để tự thủ; người dũng mãnh kiên cường, phải dùng e sợ để tự thủ; người giàu sang phú quý, phải dùng tiết kiệm để tự thủ; người đại nhân đại đức, phải dùng khiêm nhường để tự thủ. Xử thế như vậy mới có thể tránh được tai hoạ vào thân.
83 Quân tử xử thế nên lấy hành vi của mình làm chính, tôn kính người khác nhưng không đòi người khác phải tôn kính lại mình. Tôn kính và yêu thích người khác là việc của mình, còn được người khác yêu thích mình hay không, là việc của người khác.
84 Cho dù mười câu nói đúng đến chín câu cũng chưa chắc đã có người tán thưởng bạn, nhưng nếu bạn nói sai một câu thì sẽ bị người khác chỉ trích. Làm việc gì thà tỏ ra vụng một tý, tuyệt đối không được làm ra vẻ thông minh hơn người.
85 Nhón gót lên để muốn đứng cho cao, kết quả là đứng không vững; xoạc chân cho rộng để muốn đi cho nhanh, kết quả là không đi được. Cố hết sức để thể hiện mình, ngược lại lại không thể bộc lộ được bản thân; tự cho mình là phải, ngược lại lại không thể phân biệt rõ phải trái; cố tâng bốc mình, ngược lại lại không thể lập lên công tích; người tự cao tự đại thì không thể hơn người.( Lão Tử).
86 Kiêu mạn có cái tác hại là khiến ta dù muốn hay không muốn tạo thành thói quen chê bai người khác . Nếu ta hay nhìn thấy lỗi của người khác ,hay chê bai người khác thì phải biết rằng lúc đó ta đang kiêu mạn.
87 Quân tử dùng người cho ở xa để xem lòng trung , cho ở gần để xem lòng kính, sai làm nhiều việc để xem cái tài, hỏi lúc vội vàng để xem cái trí, hẹn cho ngặt ngày để xem cái tín, ủy cho tiền bạc để xem cái nhân, giao cho việc nguy biến để xem cái tiết, cho đánh chén say sưa để xem cử chỉ, cho ở chỗ phiền tạp để xem thần sắc…. Xem người đại khái như vậy, thì họa may mới có thể biết người được.( Trang Tử).
88 Khi con người ta sống chỉ vì mình thì trở thành thừa đối với những người còn lại I.Rađep
89 Trí tuệ của con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp W.Gơt
90 Có khi chỉ một giây phút bồng bột mà cuộc đời hoàn toàn thay đổi. Tương lai ra sao cũng chỉ là do thái độ của chúng ta trước những việc nhỏ nhất hôm nay.
91 Nếu bạn áp đặt suy nghĩ của bạn lên người khác là quyền của bạn, nhưng nếu bạn nghĩ rằng người ta sẽ thành ra cái thứ mà bạn muốn thì thật là ngô nghê, buồn cười!
92 Người ta có thể làm việc thiện mà không cần ầm ĩ.
93 Không phải cứ làm theo những gì mình muốn thì sẽ sung sướng hả hê thích thú. Trái lại.... người ta phải trả giá cho những gì đã làm.
94 Phải khiêm tốn để biết rằng mình vẫn có thể sai!
95 Không thể “nói chuyện trên trời” khi chưa đứng một cách vững chắc trên đất.
96 Mỗi ngày ta cần nghe một bài ca ngắn, đọc một bài thơ hay, xem một bức tranh đẹp và nói những điều tử tế.
97 Thế gian thường có người giúp người thì cho là ban ơn, trong lòng kiêu hãnh tự cho mình siêu việt không ai bằng. Thái độ này rất nguy hiểm và thường dẫn đến hậu quả phản diện: giúp người mà không tăng thêm tình cảm mà ngược lại còn làm mất phần tình người đang có.
98 Trong cuộc sống không chỉ có 1 cánh cửa hạnh phúc.
Thứ năm, 23/07/2009 - 09:55:pm

La Hầu La là con trai duy nhất của Phật, ra đời khi Ngài rời cung vua đi tìm giác ngộ. Năm 7 tuổi, ông được tôn giả Xá Lợi Phất cho thọ giới làm Sa di nhân Phật về thăm Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên sau khi đạt giác ngộ. Dù đã thọ giới Sa di nhưng còn trẻ tuổi, La Hầu La chưa ý thức rõ hết tầm quan trọng của con đường mới và cũng chưa đủ kiến thức để lãnh hội chánh pháp.
Trong tăng đoàn La Hầu La giống như một cái máy, các bậc trưởng thượng bảo sao nghe vậy, chẳng biết trách nhiệm của một sa di phải làm những gì? Khi Xá Lợi Phất nhận thêm chú bé Quân Ðầu vào làm Sa di, La Hầu La bắt đầu có bạn và thường bày các trò chơi nghịch ngợm, dối gạt người khác. Lúc ở rừng Ôn Tuyền, ngoài thành Vương Xá, có nhiều quan quyền, trưởng giả, cư sĩ đến hỏi nơi Ðức Phật đang thuyết giáo để viếng thăm, La Hầu La thường trêu chọc bằng cách chỉ không trúng chỗ. Nếu Phật ở Tinh Xá Trúc Lâm, La Hầu La bảo ở Kỳ Xà Quật, ngược lại nếu Phật ở Kỳ Xà Quật, La Hầu La chỉ ở Trúc Lâm, hai nơi này cách nhau đến những 5 dặm. Nhiều người không bằng lòng cách trêu chọc của La Hầu La, nhưng La Hầu La vừa là Sa di, vừa là con Phật lại thuộc dòng họ quyền quý, nên không ai dám chỉ trích hoặc trách cứ. Chuyện nghịch ngợm dối gạt để mua vui lâu ngày cũng đến tai Phật. Phật không vui chút nào, vì đã là một Sa di mà tập khí vương giả, tính ý lại chưa tẩy trừ được, Ðức Phật đích thân đến vườn Ôn tuyền khiển trách La Hầu La.
Khi nghe tin Phật đến, La Hầu La vội vàng ra nghinh đón. Thấy Ðức Phật rất oai nghiêm từ xa mới đến, La Hầu La đem nước đến để Phật rửa chân. Rửa xong, Phật chỉ nước trong chậu hỏi La Hầu La:
- Này La Hầu La! Nước này có thể uống được không?
- Bạch Thế Tôn! Không thể uống.
- Tại sao?
- Vì nước đã ô uế.
- Này La Hầu La! Ông cũng giống như thứ nước đó. Thời gian xuất gia làm Sa di khá dài, nhưng với lề thói xấu xa, ông chưa dứt được. Nước ô uế không uống được, thân tâm những người còn ô uế các tập khí có khác gì đâu? Hình thức xuất gia mà thân, khẩu, ý còn trần tục tất không thể thăng hoa. Người rời bỏ thế tục phải giữ lòng thanh tịnh, hành vi cử chỉ nhẹ nhàng, nói năng ngọt ngào, lựa lời mà nói. Xuất gia mà không trừ bỏ ba độc uế, chẳng khác gì nước dơ, nước không sạch người ta sẽ đem đổ, con người mang nhiều tật xấu ắt sẽ sa đọa tương lai đen tối.
Rồi Thế Tôn, bảo La hầu la đổ nước đi, nhưng còn giữ lại một ít:
- Này La hầu la, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này La hầu la, những người nói dối thì căn lành không còn lại bao nhiêu, ít như nước trong chậu này.
Rồi Thế Tôn, sau khi bảo La hầu la đổ đi chút ít nước còn lại ấy đi, Ngài hỏi tiếp:
- Này La hầu la, ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng đổ đi vậy, này La hầu la, - Đối với những người tiếp tục nói dối, thì thiện căn sẽ mất hết như chiếc chậu không có nước này.
Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo La hầu la.
- Này La hầu la, ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng lật úp vậy, này La hầu la, nói dối mà không biết xấu hổ, nhân cách cũng sẽ bị đảo lộn như cái chậu này.
Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả La hầu la:
- Này La hầu la, ông có thấy chậu nước này trống không không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng trống không vậy, này La hầu la, là giá trị nhân cách của người nói dối không biết xấu hổ.
Đức Phật hỏi tiếp:
- Này La Hầu La! Chậu này có đựng thức ăn được không?
- Thưa không.
- Tại sao?
- Vì vết dơ bám đầy chậu.
- Này La Hầu La! Chậu dơ không đựng thức ăn được, thân dơ cũng thế thôi. Ông chỉ là một hình đồng Sa di mà thân, khẩu, ý không đồng, không tu tập giới, định, huệ, tâm không trong sạch, lời nói bông đùa nghịch ngợm, thân dính đầy cấu uế, mất hết oai nghi, như thế khác gì nước uế, chậu dơ. Chậu dùng không được thì giữ lại làm gì?
Nói vừa dứt lời, Phật lấy chân đá nhẹ vào chậu khiến chậu vỡ đôi, Người lại hỏi tiếp:
- Này La Hầu La! Ông có tiếc cái chậu không?
- Thưa không.
- Tại sao?
- Vì chậu dơ, có gì phải tiếc!
- Này La Hầu La! Vì chậu dơ ông không tiếc khi nó vỡ. Giống như mọi người không thương kính ông, vì ông còn nhiều lầm lỗi, kể cả việc nói để mà chơi. Mang danh xuất gia, ăn nói không được thật thà, oai nghi thiếu chững chạc, phỉnh gạt người khác, ai mà thương mến ông được?
Phật dạy tiếp: xưa kia có một ông vua chuẩn bị đầy đủ cho con voi lâm trận, mình mặc áo giáp, ngà nối tên nhọn, túi giắt kiếm báu... Khi lâm trận voi sử dụng đủ các bộ phận của cơ thể, như hai chân trước, hai chân sau, đầu, tai, ngà, đuôi, nhưng không dùng cái vòi, luôn luôn co lại dấu kín. Nếu không bảo vệ cái vòi thì bị tên bắn, liền bị toi mạng. Ðức Phật khuyên La Hầu La cần cẩn thận lời nói, giống như con voi bảo vệ cái vòi, mở miệng nói dối dù nói chơi huệ mạng của người sẽ mất. Con voi ra trận mà không biết bảo vệ cái vòi thì chẳng còn biết sợ gì hết.
Phật lại dạy: ví dụ, như tấm gương dùng để phản chiếu, người tu hành cũng phải phản tỉnh khi sắp làm, đang làm, hoặc đã làm một thân hành, ngữ hành, ý hành nào, xem nó có đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai, biết nó bất thiện, đưa đến đau khổ, thì nhất định không làm, hoặc đình chỉ và phát lộ sám hối để chừa bỏ. Nếu sau khi phản tỉnh, biết thân hành, ngữ hành, ý hành ấy không đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai, biết nó là thiện, đưa đến an lạc, thì hãy hoan hỷ tiếp tục. Ðấy là đường lối phản tỉnh của tất cả sa môn bà, la môn trong quá khứ, hiện tại và vị lai để tịnh hóa ba nghiệp thân khẩu ý.
Con người không cẩn thận, cân nhắc lời nói để cứ nói lừa, nói dối mà không biết xấu hổ thì không có một việc xấu xa nào mà người đó không thể làm. Bởi thế con người hãy nói năng cẩn thận, giữ miệng giữ mồm.
Nghe Ðức Phật răn dạy, La Hầu La tỉnh ngộ phát nguyện sửa đổi oai nghi, bỏ lời dối gạt, âm thầm vắng vẻ tu luyện mật hạnh.
Chủ nhật, 28/06/2009 - 04:32:pm

Nguyễn Thị Quyền là người sống vào đầu triều Nguyễn( thế kỷ XIX), ở huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định.
Chủ nhật, 21/06/2009 - 06:58:am
Abraham Lincoln (1809-1865), vị tổng thống thứ 16 và cũng là một trong bốn vị tổng thống vĩ đại nhất của Mỹ. Trong buổi lễ nhậm chức, một Thượng Nghị Sĩ thuộc tầng lớp đại hào phú đem lòng đố kỵ với ông vì ông xuất thân từ một giai cấp hạ đẳng, bất cân xứng với chức vụ hiện tại. Muốn hạ nhục ông trước đám đông quan khách, vị Thượng Nghị Sĩ cố ý nói lớn cho mọi người cùng nghe, ông bảo Tổng thống: “Ngài nên nhớ rằng, Ngài là con của một người thợ đóng giày”. Abraham Clincoln mặt không biến sắc, điềm nhiên trả lời : “Đúng vậy, thưa Ngài nghị sĩ. Nếu Ngài không nhắc tôi cũng phải nhớ, Cha tôi là một người thợ đóng giày, là một người thợ lương thiện, tôi rất tự hào về cha tôi. Thuở nhỏ tôi cũng thường theo cha đi vá giày, và cũng vá rất khéo, nếu Ngài có đôi giày nào hư cứ đưa tôi sẽ vá giúp cho; chẳng những Ngài mà bất cứ ai trong đây có giày hư muốn vá lại tôi cũng xin giúp. Cả hội trường nghe vị tân tổng thống của mình trả lời như thế đều rất cảm kích, một tràng pháo tay vang động phá tan bầu không khí ngột ngạt.
Chủ nhật, 14/06/2009 - 09:26:am

- Bố ơi, người có văn hoá là người thế nào hả bố?
- Ví dụ, hai người cãi nhau. Người không có văn hoá sẽ nói: “Mày là đồ con heo”, còn người có văn hoá sẽ nói: “Thưa ông, trước đây tôi không nghĩ ông là đồ con heo, nhưng rất tiếc tôi đã lầm”.
***
Lái buôn treo trước cửa hiệu một tấm biển quảng cáo, trên đó có nhiều lỗi chính tả. Một người chỉ cho anh ta biết thì anh ta cười và giải thích:
- Tôi cố tình làm như thể để khách hàng tưởng tôi ngu và dễ bịp.
Thứ sáu, 12/06/2009 - 10:19:pm

Vừa rồi, chúng tôi được đọc một cuốn sách tựa đề "Sự Sống sau Khi Chết". Đọc xong cuốn sách nầy, nếu người nào không tu tập theo giáo lý Nguyên Thủy của đạo Phật và không có chứng nghiệm pháp hướng tâm, thì chắc chắn phải tin rằng có thế giới siêu hình. Toàn bộ cuốn sách, tác giả đã lượm lặt những mẫu chuyện "cận tử nghiệp". Tác giả này chưa bao giờ tìm hiểu Phật giáo; và nếu bây giờ có tìm hiểu và nghiên cứu Phật giáo thì ông ta vẫn hiểu lầm lạc, vì một đám mây mù của giáo pháp đại thừa đã che phủ và lấp kín lời dạy của đức Phật.
Những mẫu chuyện cận tử nghiệp của bao nhiêu người lâm sàng trên giường bệnh trong bệnh viện, đều cho đó là trạng thái của cuộc sống sau khi chết. Họ đâu biết rằng trong thân tứ đại này, khi con người còn sống có cả hai thế giới hữu hình và vô hình, nhưng khi thân tứ đại này chết, thì cả hai thế giới đều diệt. Khi thân này còn sống, cái gì hoạt động trong thế giới hữu hình? Và cái gì hoạt động trong thế giới vô hình?
Khi còn sống, con người hoạt động trong thế giới hữu hình bằng "sắc thức". Sắc thức gồm có sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức; còn hoạt động trong thế giới vô hình thì chỉ bằng "tưởng thức".
Bình thường, hằng ngày chúng ta sống làm mọi việc, thì ý thức điều khiển hoạt động do ý căn (bộ óc và thần kinh). Khi ý thức ngưng hoạt động giống như người đang ngủ, thì tưởng thức hoạt động, sinh ra giấc mộng (chiêm bao), cũng do ý căn (bộ óc và hệ thần kinh).
Cho nên, nếu một người bị bệnh tim, gan, phèo, phổi, v.v... một trong những bộ phận đó ngưng hoạt động, được xem như chết, nhưng thật sự chưa chết hẳn. Ý thức ngưng hoạt động, hơi thở dừng, tim không đập, nhưng hệ thần kinh tưởng còn hoạt động, tức là tưởng thức hoạt động (chiêm bao). Giấc chiêm bao đó gọi là "cận tử nghiệp". Hằng ngày trong cuộc sống, họ ưa thích làm những điều ác, thiện, đi chùa, nhà thờ, cúng bái, tụng niệm, ngồi thiền, ước vọng được sanh lên Thiên Đàng gặp Chúa, được vãng sanh về Cực Lạc Tây phương, gặp đức Phật A Di Đà, được thấy hào quang, ánh sáng của chư Thiên, chư Phật, Bồ Tát v.v.... Đó là những người được theo các tôn giáo và được giáo pháp của các tôn giáo ghi những ấn tượng vào đầu óc của họ, bằng những hình ảnh Chúa, Phật, ánh sáng, hào quang, hoa sen, thì cận tử nghiệp của họ sẽ thể hiện giấc mộng y như hình ảnh đó. Lợi dụng cận tử nghiệp, Tịnh Độ Tông sử dụng hộ niệm để giúp người sắp chết, thực hiện giấc mộng trực vãng Tây phương. Tịnh Độ tông nghĩ rằng nghiệp cuối cùng (cận tử nghiệp) có thể thực hiện được những ước ao và ý nguyện của con người lúc còn sống.
Đó là về phần của những người có tôn giáo. Còn những người không tôn giáo, thì cận tử nghiệp thực hiện giấc mộng theo tâm ham muốn danh lợi, thương yêu, mến tiếc, giận hờn, tức tối, thù hận, căm ghét, la hét, sợ hãi, v.v... Đó là hững điều làm ác, ngược lại làm thiện thì cũng thấy cảnh vui tươi, hoan hỷ, sung sướng, v.v...
Vì huân tập thành thói quen (nghiệp lực), lúc sắp chết, tưởng thức hoạt động từa tựa như giấc chiêm bao. Giấc chiêm bao chỉ có sáu thức ngưng hoạt động, còn toàn bộ cơ thể đều hoạt động bình thường. Người sắp chết cũng ở trong trường hợp nầy. Sáu thức ngưng hoạt động là do một tạng phủ nào bị hư hoại, không hoạt động được, chớ không giống như người ngủ chiêm bao. Đó là tưởng thức hoạt động, nên thấy mình xuất hồn ra khỏi thân và thấy thân đang nằm trên giường bệnh, các y, bác sĩ đang làm hô hấp, cứu chữa. Lúc bấy giờ, duyên năm uẩn chưa phân ly, nên tưởng thức hoạt động, bệnh nhân như nằm mộng, thấy hào quang, ánh sáng, chư Thiên Thần, chư tiên, chư Phật, chư Bồ tát, Ngọc Hoàng, Thượng Đế, quỉ sứ, ngưu đầu, mã diện, vua Diêm La, v.v... Nhờ hô hấp cứu chữa của y, bác sĩ, bệnh nhân tỉnh lại, giống như một giấc mộng, và kể lại cho những người thân nghe: "chắc chắn có sự sống sau khi chết". Con người không ngờ đó là một hình bóng, do tâm ước muốn mà tưởng thức thể hiện qua giấc mộng.
Nếu thật sự năm duyên ngũ uẩn phân ly, tan rã thì chẳng còn gì là của ta nữa hết, chỉ còn lưu lại nghiệp thiện, nghiệp ác, rồi cũng theo vô minh (tương ưng với vô minh theo hành động nhân quả của kẻ khác) mà tái sanh, luân hồi kiếp khác. Cứ mãi mãi như vậy, trôi lăn trong dòng nước nghiệp muôn kiếp, muôn đời.
Tóm lại, con người từ nhân quả sanh ra, sống trong nhân quả, và chết trở về nhân quả. Chẳng có thế giới siêu hình, chẳng có đấng tạo hoá nào cả, chẳng ai sanh ra chúng ta cả, và cũng chẳng có ai ban phước, giáng họa cho ta được. Nếu chính chúng ta biết dừng dòng nước nghiệp, thì tất cả tai nạn, bệnh tật, đau khổ và sự tái sanh, luân hồi đều chấm dứt. (IV/125-130)
(Cẩm nang tu Phật, II).
Thứ năm, 11/06/2009 - 09:15:pm

Nó sinh ra và lớn lên ở một vùng quê đất cày lên sỏi đá, mùa nắng đất trơ trắng toát vết chân chim, gió Lào hanh hao thổi mòn đét cả những thân người. Có người lúc qua đời vẫn chưa thực hiện được giấc mơ một lần ăn cơm trắng .
Mẹ một nắng hai sương, bán mặt cho đất vẫn không chống lại được cái đói lúc ấy, đâu đâu cũng thấy người đói dật dờ. Từ ngày cái đói tràn về làng, mẹ không ăn cơm chung với chị em nó nữa. Lúc hai chị em đi học về, mẹ soạn cơm trộn sắn cho ăn rồi bảo: "Mẹ ăn trước rồi". Lúc hai chị em ở nhà thì mẹ lại bảo: "Để mẹ ăn sau". Nhiều lúc sợ mẹ phải nhịn đói, chị em nó lén rình xem có thật là "mẹ ăn sau" không. Đến lúc nhìn thấy mẹ cầm cái bát đang bốc khói húp ăn, chị em nó mới an tâm. Cứ thế, tháng này qua tháng khác, chị em nó dần quen với bữa ăn vắng mẹ.
Chị gái nó được giấy khen của trường nên rón rén đến sau lưng mẹ lúc mẹ đang ăn để khoe cho mẹ bất ngờ. Nghe tiếng chị phía sau, mẹ giật mình đánh rơi cái bát. Chị em nó sững sờ nhìn bát cháo cám loãng đang chảy trên nền đất.
(Theo Áo trắng)
Thứ năm, 11/06/2009 - 08:59:pm

Giáo lý này được đức Phật nói khi Ngài ngụ tại Veḷuvana, liên quan đến KumbhaGhosaka.
Ngày xưa, một trận dịch hạch hoành hành tại Vương Xá, ngay trong ngôi nhà của vị chưởng khố. Thú vật, ruồi rồi đến gia súc chết đầu tiên, tiếp theo là đám gia nhân và vợ chồng quản gia. Cuối cùng bệnh dịch tấn công viên chưởng khố và vợ ông ta.
Biết rằng đã mắc bệnh, hai ông bà nhìn đứa con trai đang đứng gần, mắt đẫm lệ bảo nó hãy đạp đổ bức tường và trốn đi, đừng quan tâm đến cha mẹ mà hãy cứu mạng mình, rồi sau đó trở về nhà đào kho tàng bốn tỷ tại nơi đó, nơi đó... để sinh sống. Người con trai nghe nói vậy khóc sướt mướt, giã biệt cha mẹ, đạp đổ bức tường và trốn đi. Anh vào rừng tìm nơi ẩn náu, ở đó suốt mười hai năm rồi về nhà.
Khi ra đi anh chỉ là một đứa bé, giờ trở về tóc và râu mọc dài, không ai nhận ra anh. Anh tìm được kho tàng và thấy còn nguyên, nhưng anh không dám lấy ra xài sợ làng xóm nghi kỵ quấy nhiễu hoặc bắt bớ mình. Vì vậy anh tìm chỗ làm thuê để kiếm sống. Anh ăn mặc rách rưới đến khu những người lao động và hỏi thăm xem có ai cần người làm không. Họ trả lời anh:
- Nếu anh làm một phần việc của chúng tôi, chúng tôi sẽ trả gạo cho anh.
- Làm việc gì thế các bạn?
- Ra lệnh và điều khiển công việc của chúng tôi. Anh phải dậy thật sớm, đi quanh những người làm và ra lệnh cho họ: “Các ông, thức dậy đi, đem xe ra, thắng ách vào bò, đã đến giờ cho voi ngựa đi ăn cỏ! Các bà ơi, dậy đi, lo nấu cơm, nấu nước!”
- Hay quá!
Và anh nhà giàu nhận việc. Họ cho anh nhà ở và anh làm việc đều đặn thật hết lòng.
Một hôm vua Bình-sa-vương, người có thể nhận dạng mọi người qua tiếng nói( có tài xem tướng), nghe tiếng của anh ông nói ngay:
- Đây là tiếng nói của một người giàu có.
Một tỳ nữ đứng gần vua nghe thế nghĩ rằng không thể xảy ra một chuyện như vậy được, và cô ta muốn điều tra nên phái người đi dò hỏi, biết đó là một người nghèo làm việc cho những người hầu. Nhà vua nghe báo cáo không nói gì thêm, nhưng mấy ngày sau nghe tiếng anh cất lên vẫn đoan chắc là giọng nói của một nhà giàu. Năm lần bảy lượt hỏi tới hỏi lui, dò xét đủ kiểu, cô tỳ nữ tâu với vua anh chàng đó là một người nghèo, vua vẫn không tin. Cô nghĩ chắc là vua nói đúng nên cô thấy mình có bổn phận phải tìm hiểu sự thật. Cô xin vua cho một ngàn đồng, sẽ đem con gái mình đến gặp người đàn ông này, và hứa sẽ đem kho tàng về hoàng cung.
Rồi hai mẹ con ăn mặc rách rưới đến khu lao động xin tá túc vài ngày trước khi đi xa. Những người tại đó chỉ nhà của KumbhaGhosaka. Ban đầu anh ta không chịu cho ở, sau hai mẹ con cứ nằn nì mãi anh buộc lòng phải chấp nhận. Cô tỳ nữ làm đủ cách để lấy lòng anh ta, nào là nấu cơm hảo hạng theo hoàng gia với nước sốt và cà-ri... Cuối cùng cô ta cắt dây nệm giường, mỗi ngày một ít trong ba ngày liên tiếp. KumbhaGhosaka cáu kỉnh trách móc thì cô ta cứ trả lời là không thể ngăn tụi nhóc nhảy tưng tưng lên đó. Rồi đến một hôm toàn bộ tấm nệm rơi xuống đất vì đã đứt hết dây. Lần này anh không kiềm chế, nổi giận đùng đùng vì không còn giường để nằm nữa. Anh ta rên rỉ:
- Trời! Tôi biết đi đâu bây giờ đây?
Cô tỳ nữ không bỏ lỡ dịp, đáp ngay:
- Anh bạn! Tôi biết làm sao, tôi không thể đuổi bọn trẻ con hàng xóm cứ đến chơi giỡn và nhảy tưng lên giường. Xin đừng phiền, xem nào, tôi có thể làm gì được cho anh, à được rồi!
Rồi quay sang cô con gái, bà mẹ ngọt ngào bảo:
- Con gái cưng, dọn chỗ cho anh con nằm.
Cô con gái vâng lời, nằm lăn qua một bên và anh ta qua nằm kế. Đêm đó họ thành thân với nhau. Hôm sau cô con gái khóc kể tự sự với mẹ. Bà mẹ an ủi con:
- Ồ, có sao đâu! Con rồi cũng phải có chồng, anh ta phải có vợ.
Rồi bà nhận anh ta làm rể. Bà tiếp tục kế hoạch của mình bằng cách cho người về tâu với vua xin ra lệnh cho nghỉ việc tại khu lao động, ai bất tuân sẽ bị xử phạt. Vua chuẩn y. Bà mẹ vợ bối rối bàn với chàng rể phải làm sao vì nghỉ làm sẽ không có lương, mà lệnh vua thì không dám cãi. Cuối cùng bà xúi chàng rể đi vay nợ để ăn vào ngày nghỉ đó. Anh ta không còn cách nào khác. Đành phải trở về nơi chôn giấu kho tàng lấy đúng một đồng cho mẹ vợ. Bà nhận tiền nhưng đem gởi cho vua và lấy tiền riêng của mình chi tiêu trong nhà.
Sau đó vài ngày, bà lại xin vua truyền lệnh như thế một lần nữa. Anh ta phải trở lại kho tàng lấy thêm ba đồng nữa đem về.
Phần chót kế hoạch của bà là xin vua cho mời KumbhaGhosaka về triều. Anh ta không chịu đi nên bị quân lính áp đảo, nắm tay chân lôi đi. Bà trấn an anh ta, bảo cứ đi; khi gặp vua bà sẽ tâu với vua để xử phạt những kẻ đã dám bắt lôi rể bà. Rồi bà cùng cô con gái đi trước. Đến hoàng cung, bà cởi bỏ lớp rách rưới, mặc y phục sang trọng với đầy đồ trang sức lấp lánh, đứng một bên vua. Rồi KumbhaGhosaka bị điệu đến trước bệ rồng để đối đáp những lời chất vấn của vua:
- Ngươi là KumbhaGhosaka?
- Tâu vâng.
- Tại sao ngươi dối trá khi tiêu pha tài sản kếch sù của mình?
- Tài sản của tôi? Ở đâu, đại vương? Tôi sống bằng sự làm thuê.
- Không phải thế. Sao ngươi lừa dối ta?
- Tâu đại vương, tôi không dối Ngài. Tôi không có tài sản.
Vua chỉ những đồng tiền do mẹ vợ anh gửi đến và hỏi anh:
- Thế những đồng tiền này của ai?
KumbhaGhosaka nhận ra đồng tiền của mình, sợ hãi đến chết cứng. Anh nhìn về phía vua, thấy hai người đàn bà kia trang điểm lộng lẫy mới vỡ lẽ tại sao đồng tiền của mình lại lọt vào tay vua. Thì ra đây là một âm mưu đã được chuẩn bị kỹ lưỡng và kín đáo, và hai người đàn bà này đã bị nhà vua mua chuộc. Anh sững sờ, đứng chết lặng, không biết phải ăn nói ra sao. Nhà vua đoán biết hỏi dồn anh:
- Nói đi! Tại sao anh làm thế?
Anh run rẩy trả lời:
- Tôi không có người bảo vệ, đại vương!
- Không ai bảo vệ anh bằng ta.
- Tâu đại vương, tôi rất sung sướng được đại vương bảo vệ.
- Ta bảo vệ anh. Tài sản của anh lớn lao đến mức nào?
- Bốn trăm triệu đồng tiền, tâu đại vương.
- Được rồi, ta sẽ cho chở tài sản anh đến đây. Nhưng bằng cách nào?
- Dạ, bằng xe, tâu đại vương.
Khi cả gia tài của KumbhaGhosaka chất đống trước hoàng cung, vua tập hợp dân chúng trong thành Vương Xá và hỏi có ai trong thành có được tài sản nhiều như thế này không? Không ai đáp được, và mọi người đồng thỉnh cầu vua ban cho anh ta chức vị. Vua đồng ý và bổ nhiệm cho anh ta làm chưởng khố rồi gả công chúa cho anh. Sau đó vua dẫn anh đến đảnh lễ đức Phật đồng thời ca ngợi hạnh tốt của anh, không ỷ lại tài sản lớn lao để hưởng thụ, chịu khó làm người nghèo sống bằng sức lao động của mình.
Phật nghe xong hoan hỷ dạy rằng:
- Một người sống như thế, này đại vương, là một người sống chân chánh. Trộm cắp và những hành vi xấu ác khác sẽ đè bẹp chúng ta không những ở đời này mà còn gây đau khổ cho kiếp sau. Ngược lại, một người dù bị khánh tận tài sản, phải làm thuê làm mướn để kiếm sống, là một người sống chân chánh. Một người như thế nỗ lực hết sức mình, luôn luôn chánh niệm, thân khẩu ý đều thanh tịnh, biết dè dặt từng cử chỉ hành động, biết chế ngự thân hành, khẩu hành và ý hành, sống chân chánh, không bao giờ buông lung, người như thế càng ngày càng dũng mãnh.
Và kết thúc bằng Pháp Cú:
(24) Nỗ lực, giữ chánh niệm,
Tịnh hạnh, hành thận trọng,
Tự điều, sống theo pháp,
Ai sống không phóng dật,
Tiếng lành ngày tăng trưởng.
Thứ hai, 08/06/2009 - 09:37:pm

Vài năm trước tôi là một chàng trai tuổi đôi mươi vừa mới tập tễnh vào đời. Lúc đó, tôi nghĩ rằng con người ta tài năng chỉ một phần, phần nhiều còn lại là nhờ sự may mắn mà số mệnh dành cho.
Một lần, tôi và một người bạn ngồi quán trao đổi đủ chuyện về cuộc sống, văn chương thì có một ông già bán vé số bước vào. Ông ta đứng đợi thật lâu đến khi chúng tôi uống trà đá tráng miệng mới bước đến mời:
- Hai chú mua vé số đi, mỗi tờ vé số là một niềm may mắn!
Thú thật tôi ít mua vé số nhưng nghe ông ta nói đến chữ may mắn, tôi mua cho tôi một tờ và tặng bạn một tờ. Khi ông ta lấy tiền tôi mới nhận ra ông ta chỉ có một cánh tay. Một sự bốc đồng ngông nghênh của tuổi trẻ bùng lên trong tôi bật thành câu hỏi:
- Đi bán may mắn cho thiên hạ, vậy bác có chừa lại sự may mắn cho mình không?
Ông ta nhìn tôi chăm chú một lúc rồi chìa bàn tay còn lại:
- Còn bàn tay này là còn may mắn cháu ạ!
Cả tuần tôi chỉ nghĩ về câu nói của ông. Tôi vẫn vui mỗi khi gặp điều may mắn trong cuộc sống, nhưng tôi không chỉ biết ngồi trông chờ vị thần ấy nữa. Tôi nhớ về người đàn ông cụt tay tự tạo nên may mắn từ cánh tay còn lại của mình...
Thứ hai, 08/06/2009 - 12:44:pm

Từ trước đến nay, người ta đã hiểu sai về đạo Phật. Phật Pháp thực sự vi diệu nhưng gần gũi, tự mình nương tựa mình chứ không cầu cạnh một ai, không van xin một thế lực nào. Phật Pháp đối trị được tất cả những đau khổ của thân tâm con người bằng những pháp hành rõ ràng, cụ thể.
Người đời thường thắc mắc tại sao người ta tìm về đạo Phật? Bởi đạo Phật là đạo của giải thoát, đạo của trí tuệ, đạo cứu khổ, vì chân lý đầu tiên của đạo Phật đã xác quyết rõ ràng "Đời là khổ", và chân lý thứ tư chính là con đường thoát khổ, con đường giải thoát thênh thang: Bát Chánh Đạo.
Sau đây chúng tôi xin gửi đến mọi người phương pháp tác ý trị bệnh, để chúng ta có thể vượt qua được nỗi khổ vì bệnh tật của kiếp người:
Nằm hay ngồi trong tư thế nào cũng được, nhưng nếu gan dạ thì nên ngồi kiết già hay bán già, lưng thẳng, mở mắt nhìn phía trước cách chỗ ngồi một thước.
Khi thân ngồi ngay thẳng, tâm yên ổn mới tác ý như sau:
"Tất cả bệnh tật đều vô thường, vậy thân bệnh này phải phục hồi không còn bệnh tật nào cả. Tất cả bệnh tật này hãy đi! Đi!
An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra"
Khi tác ý như vậy xong thì chú tâm vào hơi thở hít vô và hơi thở ra đúng 5 hơi thở rồi lại tác ý lần thứ hai như câu trên đã dạy.
Cứ như vậy tiếp tục đuổi bệnh trong 30' rồi nghỉ độ 10'. Khi nghỉ xong 10' rồi lại tiếp tục đuổi bệnh trong 30' nữa.
Khi đuổi bệnh phải siêng năng tác ý như vậy thì chỉ trong thời gian ngắn bệnh tật sẽ chấm dứt và thân không còn một bệnh tật nào cả.
Pháp Như lý tác ý đuổi bệnh là do Đức Phật dạy: "Có Như lý tác ý bệnh tật khổ đau (lậu hoặc) chưa sinh sẽ không sinh mà đã sinh thì bị diệt", nhưng muốn được hiệu quả đẩy lui bệnh ra khỏi thân thì bệnh nhân phải nhiếp tâm và an trú tâm trong thân hành (hơi thở ra, hơi thở vô, cánh tay đưa ra, đưa vào hay chân bước đi kinh hành).
Trong những thân hành nên chọn một thân hành mà tập luyện nhiếp tâm an trú cho được thì đẩy lui bệnh rất hiệu quả. (Mọi người có thể liên hệ với các thiện hữu tri thức để rõ hơn ạ)
Dùng pháp Như lý tác ý đuổi bệnh không tốn hao tiền thang thuốc và bác sĩ. Vậy mong sao quý vị hãy tự cứu mình ra khỏi biển khổ của kiếp làm người.
(Trưởng Lão Thích Thông Lạc)
Như vậy, Phật đâu dạy chúng ta phải cầu an, cúng bái cầu hết bệnh. Người dạy chúng ta "hãy tự mình thắp đuốc mà đi" trên con đường Người đã vạch ra.
Phật Pháp là vậy, mong đừng ai lầm lạc mà hiểu sai về đạo Phật, vì thực sự đạo Phật không hề lạc hậu mà rất khoa học và vượt trên tất cả mọi thời đại. Chỉ có con người đã làm mất đi đạo Phật chân chính mà thôi.
Cái hiểu biết trong tầm nhận thức của mình, đâu hẳn là bản chất thật của sự việc, đúng không các bạn?
Thứ tư, 27/05/2009 - 10:32:pm


Thứ tư, 27/05/2009 - 10:30:pm

94 tuổi chăn vịt thuê nuôi con tàn tật
Thứ năm, 30/04/2009 - 12:08:pm

Vợ mất sớm, ở tuổi 94, cụ Nguyễn Thương, thôn Lưu Khánh (xã Phú Dương, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) vẫn phải ra đồng chăn vịt thuê để nuôi con trai tật nguyền.
Lặn lội đồng hoang
Chúng tôi tìm đến cái đầm trũng ở xã Phú Dương, nơi ngày ngày cụ Thương vẫn chăn vịt thuê kiếm sống. Chăn một bầy vịt chừng bảy, tám trăm con, mỗi tháng cụ nhận được bảy trăm ngàn tiền công.
Trại vịt đóng ngay giữa đồng, ngày này qua tháng khác, một thân ông cụ 94 tuổi cùng đàn vịt cứ thế ăn ở nơi đồng hoang. Khi trời chưa sáng hẳn, cụ Thương đã thức dậy để thả vịt, rồi rong ruổi theo bầy vịt từ cánh đồng này sang thửa ruộng khác.
| Cụ Thương và con trai |
Cả ngày ngâm mình trong đầm nước, chân tay cụ sưng tấy triền miên; phần vì tuổi già sức kém, lại lội nước bẩn nên ghẻ mọc nham nhở cả đôi chân.
Có những buổi trưa trời nắng như lửa đốt, đội mê nón rách, cụ lội qua mấy thửa ruộng để tìm lại những con vịt còn lạc chưa về.
Đêm về, khi đàn vịt đã no bụng vào chuồng, cụ tắm vội trên khúc sông rồi một mình trầm ngâm bên bữa cơm tối đạm bạc. Tối đến, kiểm tra lại chuồng trại xong xuôi, cụ lại co ro trên tấm ván cáu bẩn, nứt nẻ giữa nồng nặc mùi phân vịt.
|
Ông Đặng Tình, Trưởng thôn Lưu Khánh |
Anh Kép, con trai duy nhất của cụ Thương, bị bệnh thần kinh, liệt nửa người. Không có tiền chạy chữa, đôi chân anh co quắp, teo lại.
Để nuôi mình và con, kiếm thêm thuốc thang, trong tay không tấc đất, cụ Thương rong ruổi đây đó kiếm chỗ làm thuê. Từ cấy cày đồng áng trong thôn cho đến phu hồ, bán vé số, cụ đều làm tất.
Chắt chiu dành dụm được bao nhiêu, cụ Thương lại đem hết tìm thầy chữa trị cho con.
Bao nhiêu năm vất vả, giờ đây công lao của người cha cũng được đền đáp, khi bệnh của anh Kép có phần đỡ hơn, đã có thể nhúc nhắc trên đôi chân của mình.
Cha con cụ lại may mắn được xã xây cho ngôi nhà tình nghĩa. Có nhà, nhưng cụ Thương vẫn phải vất vả chăn vịt thuê kiếm sống nơi đồng hoang để có miếng cơm cho cha con qua ngày.
|
Mọi sự giúp đỡ, chia sẻ xin gửi về : - Ban Đại diện báo Tiền Phong tại miền Trung, 19 Ngô Gia Tự, Đà Nẵng hoặc Ban Bạn đọc báo Tiền Phong 15 Hồ Xuân Hương, Hà Nội. - Báo Tiền phong, 15 Hồ Xuân Hương, ĐT: 04.9434341. STK: 12310000062175 Ngân hàng đầu tư và phát triển VN, chi nhánh Quang Trung, Hà Nội. (Xin ghi rõ : Giúp đỡ cụ Thương) |
Con chim ưng của Thành Cát Tư Hãn
Thứ tư, 29/04/2009 - 09:03:am

Mờ sáng hôm ấy, Đại Hãn, vị hoàng đế vĩ đại và là chiến binh dũng cảm nhất tháo nguyên Mông Cổ, cùng những chiến tướng cận thần phóng ngựa vào rừng bắt đầu một chuyến đi săn mới. Trên tay ông ngất nghểu một con chim ưng mà ông rất mực yêu quý.Vào thời đó chim ưng được huấn luyện để đi săn. Chỉ cần nghe hiệu lệnh là con chim bay vút lên cao và nhìn dáo dãcung quanh tìm kiếm con mồi, nó sẽ lao xuống như tên bắn và tấn công chúng.
Mặt trời khuất sau dãy núi nhưng Đại Hãn và đoàn tùy tùng chưa săn được mồi. Nóng lòng Đại Hãn thúc ngựa lên trước tách khỏi đoàn. Ông quá quen thuộc với khu rừng này. Trong khi mọi người tiếp tục đi con đường cũ, ông lại chọn con đường khác xa hơn chạy xuyên qua thung lũng giữa hai dãy núi.
Sau nhiều giờ quần thảo trên ngựa, dưới cái nóng, Đại Hãn bắt đầu khát nước. Con chim ưng vụt khỏi cổ tay ông và lao vút đi, ông tin nó sẽ tìm được đường quay về. Chợt ông thấy nước chảy ra từ một ghềnh đá, ông lấy cốc bạc và bước đến hứng những giọt nước rỉ ra. Ông kiên nhẫn và biết phải lâu lắm cốc nước mới đầy, miệng khát đắng, ông đưa ngay lên uống mà ko kịp chờ đầy cốc. Bất thình lình, một âm thanh vút từ trên ko, một vật xẹt ngang tay ông và cốc nước bị hất đổ. Thì ra đó là con chim ưng yêu quý của ông.
Đại Hãn nhặt chiiếc cốc lên và một lần nữa kiên nhẫn, và cũng như lần trước, trước khi chiếc cốc chạm vào môi, con chim ưng lại làm rớt cốc nước một lần nữa.
Đại Hãn bắt đầu nổi giận. Ông tiếp tục lần nữa và lần này cũng ko ngoại lệ. Đại Hãn vô cung tức giận, hét lớn:
- Con vật khốn kiếp kia, sao ngươi dám làm vậy? Đừng để ta bắt được ngươi, ko thì ta sẽ vặn cổ nhà ngươi đó!
Và rồi ông lại hứng một ly khác. Lần này trước khi đưa lên miệng uống, ông cầm sẵn cây gươm trên tay.
- Nào, đấy là lần cuối ta chịu đựng ngươi - Đại Hãn hét lớn - con chim vẫn lao xuống. Một lằn sáng vút lên và thanh gươm chém trúng con chim nhưng đồng thời ly những bị hất tung ra khỏi tay vua. Không chút thương xót, Đại Hãn gằn giọng:
-Cái chết thật xứng đáng cho cái tội láo xược của nhà ngươi. Ta sẽ uống nước ngay tại nguồn.
Đi ngược lên nới dòng nước rỉ ra. Khi đến nơi, Đại Hãn kinh ngạc khi nhìn thấy, nằm ngay dòng nước rỉ ra là xác một loài rắn cực độc đang dần thối rữa.
Đại Hãn khựng lại quên cả cơn khát cháy cổ. Ông đau đớn khi nghĩ đến hành động vừa rồi của mình, cơn giận nhất thời đã khiến ông vung tay chém chết con vật mà ông yêu quý- chỉ vì nó muốn cứu mạng ông. Kể từ đó, hình ảnh con chim ưng giẫy chết trong vũng máu luôn nhắc nhở ông "đừng bao giờ hành động điều gì trong cơn tức giận"
Thứ bảy, 25/04/2009 - 10:27:am

Lương Sinh người ở Mãn Châu, con nhà thế phiệt, nổi tiếng thông minh đỉnh ngộ từ khi tóc để trái đào. Lên tám đã giỏi thơ ca, từ phú, ai cũng ngợi khen là bậc thần đồng.
Thứ sáu, 24/04/2009 - 10:29:am

Thứ năm, 23/04/2009 - 12:26:pm

Thứ hai, 20/04/2009 - 07:25:pm

Paul là một trong những học sinh tôi quý nhất, nhưng lại không phải là một trong những học trò giỏi của tôi. Một ngày nọ, Paul bước vào phòng tôi và hỏi:
"Thưa thầy, câu nói mà thầy ghi trên bảng tin có đúng hay không ạ? Hay thầy viết ra chỉ vì nó nghe có vẻ bóng bẩy".
"Câu nói nào?", tôi hỏi lại mà không rời mắt khỏi chiếc bàn giấy của mình.
"Thưa thầy, đó là câu: Nếu chúng ta tin tưởng vào một điều gì đó và điều đó có tính chất tốt đẹp, hướng thiện thì chúng ta sẽ đạt được nó."
Tôi ngẩng mặt lên nhìn Paul rồi trả lời: "Tác giả của câu danh ngôn này, ông Napoleon Hill, đã viết ra nó sau nhiều năm tìm hiểu cuộc sống của những bậc vĩ nhân và phát hiện ra rằng chính niềm tin vào câu châm ngôn trên là điểm chung của tất cả họ".
"Ý của thầy là nếu như em có ý tưởng tốt đẹp, hướng thiện và tin vào nó thì em có thể thực hiện được ý tưởng đó?", Paul hỏi tôi với một xúc cảm mãnh liệt khiến tôi hoàn toàn bị cuốn hút.
"Theo những gì mà thầy đã chứng kiến và đọc qua thì đó không phải là câu nói suông mà là một qui luật đã được lịch sử kiểm nghiệm".
Paul đi chậm rãi quanh căn phòng. Đột nhiên em quay lại nhìn tôi với một quyết tâm mà trước đây tôi chưa từng thấy ở em và nói: "Thưa thầy Schaltter, trước đây em luôn là một học sinh kém và em biết là em sẽ phải trả giá cho điều này. Tuy nhiên nếu như em nghĩ mình là một học sinh giỏi và tin vào điều đó thì liệu em có thể trở thành một học sinh giỏi được không?"
"Tất nhiên là được rồi, Paul. Tuy nhiên em nên biết điều này: nếu như em thật sự tin vào một điều gì đó, em phải nỗ lực hết mình để đạt được nó. Thầy tin là sức mạnh của ý chí sẽ giúp em rất nhiều một khi em có quyết tâm."
Sau một lúc im lặng, Paul lên tiếng: "Vâng, thưa thầy, đến cuối học kỳ này em sẽ trở thành một học sinh giỏi."
"Đó là một thử thách thật sự đấy Paul, nhưng thầy tin là em sẽ đạt được điều mà em vừa mới nhận thức ra."
Những tuần sau đó, Paul đã tự hình thành cho mình một sự ham hiểu biết mãnh liệt khi luôn đưa ra những câu hỏi thông minh và thể hiện một ý thức kỷ luật cao qua cách ăn mặc và tác phong chỉnh tỏ của mình. Điểm học của em bắt đầu tăng dần lên và lần đầu tiên trong cuộc đời học sinh của mình, bạn bè em đã bắt đầu nhờ em giúp đỡ. Và kèm theo đó Paul cũng dần dần trở thành một học sinh thân thiện và hòa nhã với bạn bè.
Thế rồi cuối cùng thành công cũng đến với em. Vào một buổi chiều ngày thứ sáu, tôi ngồi vào bàn và bắt đầu chấm điểm cho bài kiểm tra quan trọng về Hiến pháp nước Mỹ của lớp Paul. Tới bài của Paul tôi đã phải đọc kỹ nhiều lần bài làm của em trước khi quyết định cầm cây bút đỏ lên và ghi điểm A cộng vào bài. Đây là một bài làm xuất sắc và cũng là điểm A cộng đầu tiên của Paul. Sau đó tôi tính điểm trung bình của Paul và vui mừng nhận ra rằng em đã đạt được điểm giỏi như mong muốn. Sáng hôm sau, khi tôi vừa bước xuống xe, thì Kathy, một trong những người bạn thân nhất của Paul, nước mắt giàn giụa chạy đến và báo cho tôi biết về thảm kịch vừa mới xảy ra: trong khi đang tập kịch với các bạn, một học sinh nghịch ngợm đã chĩa một khẩu súng "không có đạn" vào đầu Paul và bóp cò. Paul đã ngã xuống vì bị một viên đạn xuyên qua não.
Vài ngày sau, giám thị đưa cho tôi một thông báo về Paul. Ngay kế bên ô ghi điểm của Paul xuất hiện dòng chữ "không cần thiết". Dù vậy, tôi vẫn ghi điểm A cộng của Paul vào ô đó- điểm số mà em đã nỗ lực không ngừng để đạt được nó mà không sao cầm được nước mắt. Đột nhiên tôi ngừng khóc và bắt đầu mỉm cười khi hình dung ra ở đâu đó Paul vẫn không ngừng nhận thức, tin tưởng và đạt được những gì em muốn, nhờ đó đã hình thành cho mình đức tính ham học hỏi, ý thức kỷ luật, và lòng tự trọng- những đức tính mà những người thầy phải vun trồng cho các học sinh của mình. Đó chính là món quà vô giá mà Paul đã mang đến cho cuộc đời làm giáo viên của tôi trước khi đi xa.
Giải thích các nhà ngoại cảm: Phan thị Bích Hằng, Nguyễn Văn Nhã.
Thứ sáu, 03/04/2009 - 01:20:pm

Sau khi đọc bài viết của giáo sư Trần Phương “TÌM HÀI CỐT LIỆT SĨ, MỘT HÀNH TRÌNH ĐẦY BÍ ẨN”. Trong bài viết này đoạn cuối, chúng tôi thấy giáo sư có đưa ra nhiều câu hỏi để gợi ý giúp cho Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Của Con Người qua tựa đề “KHÁM PHÁ SỰ BÍ ẨN”.
Chúng tôi xin trả lời câu hỏi thứ nhất của giáo sư:
1- Câu hỏi giáo sư đã xác định: “Tôi căn cứ để tin rằng đã gặp linh hồn em tôi, anh tôi và chị tôi, cả linh hồn cụ Giám là người chôn cất và linh hồn cụ An là người chứng kiến. Cháu Hằng đã nhận dạng được linh hồn, thậm chí còn nhận diện được linh hồn qua tấm ảnh, đã được nghe tiếng nói của linh hồn. Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hóa học, y học, sinh học, với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn sẽ có ngày tìm ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?”
Cách đây 2548 năm có một người đã xác định rằng: “không có thế giới siêu hình” có nghĩa là không có đời sống sau khi chết Ngài đã chia thân người làm năm phần:
- Phần thứ nhất là sắc uẩn.
- Phần thứ hai là thọ uẩn.
- Phần thứ ba là tưởng uẩn.
- Phần thứ tư là hành uẩn.
- Phần thứ năm là thức uẩn.
Một người chết năm uẩn này đều tan rã không còn một chút xíu nào cả. Người xác định điều này là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vậy thì cái gì còn lại gọi là linh hồn của con người?
Theo cái nhìn của Phật giáo thì một con người là do năm duyên hợp lại mà thành ra. Và xa hơn nữa là vạn vật trên thế gian này đều hiện hữu, sự hiện hữu có mặt của một vật đều do nhiều duyên hợp lại. Cho nên một thế giới mà có được thì phải có nhiều duyên kết hợp mới lập thành. Một thế giới không thể nào chỉ có một vật thể đơn điệu được.
Ví dụ 1: Một cái cây kia, nếu không có đất, nước, gió, không khí và nhiệt độ, nóng lạnh, ẩm thấp, nắng mưa, v.v...thì cây kia không thể sống được.
Ví dụ 2: Một con người sanh ra ở đời, nếu không có cỏ cây, thực phẩm để nuôi sống thì con người cũng không sanh ra được, nếu có sanh ra được thì cũng không sống được. Cỏ cây, con người và vạn vật không có sự hiện hữu trên hành tinh này thì làm sao gọi là thế giới.
Vì thế, nếu quả chăng con người có sự sống sau khi chết, thì thế giới của người chết phải có một môi trường sống riêng cho linh hồn, chứ đâu cần gì chúng ta phải cúng những thực phẩm mà những thực phẩm ấy chỉ nuôi sống cho những duyên hợp hiện hữu của nó, chứ đâu phải những thực phẩm của chúng ta là để cho linh hồn thọ dụng. Vì thế, cúng lễ những thực phẩm hoặc đốt hương, vàng mã của thế giới hữu hình cho thế giới vô hình thì quý vị suy nghĩ có đúng không? Hay làm một việc nhảm nhí?
Nếu quả chăng có thế giới siêu hình thì những linh hồn đó, phải có một hình dáng cố định, vì thế giới siêu hình là thế giới thường hằng không thay đổi thì không thể nào linh hồn lấy hình dáng của con người làm hình dáng của mình. Khi mà hình dáng của con người vô thường không cố định chỉ trong một đời người mà đã thay đổi nhiều lần: trẻ có hình dáng khác, thanh niên có hình dáng khác và già có hình dáng khác, huống là đời này mang hình dáng này đời sau mang hình dáng khác. Xét như vậy chúng ta thấy linh hồn có đúng không?
Cho nên, thế giới hữu hình của chúng ta do các duyên hợp thành, vì do các duyên mà thành nên có sự vô thường thay đổi liên tục. Vì vậy một con người mới sanh ra cho đến 7, 8 chục năm sau thì không giống nhau. Chúng ta hãy quan sát một con người từ hình dáng của một đứa bé mới sanh so sánh với hình dáng của một ông cụ già 7, 8 mươi tuổi thì hai hình dáng này không giống nhau, như vậy chứng tỏ sự vô thường thật sự, như trên chúng tôi đã nói.
Như các bạn thường nghĩ và cho linh hồn là một vật thể không thay đổi. Vì thế linh hồn là bất tử, nên thường đi tái sanh luân hồi từ thân này, đến thân khác. Thân thì có trẻ, có già, có chết. Còn linh hồn thì không già, không trẻ và không chết. Như vậy cháu Bích Hằng phải xem bức ảnh của cô Khang rồi mới nhận ra linh hồn của cô Khang thì như vậy không đúng. Vì sao vậy? Là vì linh hồn của cô Khang bây giờ không còn là hình dáng của cô Khang nữa, mà là hình dáng bất di bất dịch của linh hồn. Khi linh hồn ấy còn mang thân xác của cô Khang thì hình dáng ấy là hình dáng xác thân của cô Khang, chứ đâu phải là hình dáng linh hồn của cô Khang phải không thưa quý vị? Khi cô Khang chết thì hình dáng của cô Khang cũng không còn, thì như vậy linh hồn của cô Khang phải trở về với hình dáng nguyên thủy của nó, thì làm sao linh hồn có hình dáng giống cô Khang được. Vì linh hồn là một vật không thay đổi, như chúng tôi đã nói ở trên.
Xét ở góc độ này thì cháu Bích Hằng gọi hồn cô Khang về là một năng lực trong thân ngũ uẩn của cháu Bích Hằng tạo ra linh hồn của cô Khang, chứ không phải có linh hồn cô Khang thật, vì thế cháu phải nhìn hình ảnh cô Khang rồi mới tạo ra hình ảnh cô Khang được.
Do đó chúng ta suy ra, nếu có thế giới linh hồn của người chết thì những linh hồn ấy không có hình dáng giống như chúng ta. Tại sao vậy?
Tại vì một linh hồn phải trải qua nhiều lần tái sanh luân hồi, do đó mỗi lần tái sanh là mỗi lần có hình dáng khác nhau của thân xác, có nhiều hình dáng khác nhau như vậy thì làm sao linh hồn cô Khang giống cô Khang được?
Tất cả những sự việc này lần lượt chúng tôi sẽ cố gắng vén bức màn bí ẩn để quý vị không còn thấy nó là bí ẩn nữa.

Trạng thái ngoại cảm của anh Nhã rất rõ nét, vì anh làm việc ngoài ý thức của anh, có nghĩa là trong đầu anh nghe nói tên (Nhương, Nhường, Nhượng) hoặc tự điều khiển anh viết hoặc vẽ bản đồ chứ riêng anh không có chủ ý viết hoặc vẽ. Tự trong đầu anh có sự điều khiển trong vô thức. (“Tôi thấy trong đầu tôi hiện ra như thế nào thì tôi vẽ như thế ấy, tôi cũng chẳng hiểu nữa”). Đây là lời của anh Nhã nói, khi giáo sư Trần Phương hỏi. Và anh còn nghe được những âm thanh trong tai (“Tôi thấy trong tai tôi như có âm thanh ấy”).
Qua sự trình bày của anh Nhã chúng tôi xin giải thích để quý vị rõ. Do đâu điều khiển mà anh Nhã đã vẽ được bản đồ của một vùng chưa bao giờ đi đến và vị trí địa thế ngôi mộ cũng được xem là đúng ở cự ly rộng.
Trong bộ óc của con người có nhiều nhóm tế bào não, mỗi nhóm tế bào não đều làm việc theo phận sự của nó.
Ví dụ: Một người đang thức và đang làm một việc gì đó, hay đang tư duy suy nghĩ về một vấn đề gì, thì nhóm tế bào não thuộc về ý thức hoạt động, làm việc, trường hợp đó cũng giống như chúng tôi đang tư duy, suy nghĩ để viết sách và viết như thế nào để quý bạn dễ hiểu và hiểu một cách cụ thể hơn.
Chúng ta có thể gọi nhóm tế bào não bộ này là nhóm tế bào não bộ ý thức.
Còn trường hợp chúng ta đang ngủ mà bị chiêm bao thì nhóm tế bào não nào làm việc đây?
Chúng tôi xin giải thích, khi chúng ta đang ngủ thì toàn bộ nhóm tế bào thuộc về ý thức, chắc chắn phải ngưng hoạt động, như lúc ngủ mắt không thấy vật, tai không nghe âm thanh, ý không phân biệt, v.v... như vậy rõ ràng là nhóm tế bào ý thức chúng ta ngưng hoạt động. Vậy cái gì hoạt động trong giấc chiêm bao?
Xin thưa, khi nhóm tế bào não thuộc về ý thức không hoạt động, thì nhóm tế bào não thuộc về tưởng thức hoạt động, do nhóm tế bào tưởng thức này hoạt động nên người ta mới có chiêm bao.
Còn trường hợp của anh Nhã thì hai nhóm tế bào não trong óc anh nó kết hợp (câu hữu) làm việc với nhau, và sự kết hợp làm việc này mới xảy ra với anh chứ trước kia anh không có trạng thái này.
Ở đây, chúng ta cần phải hiểu thêm về nhóm tế bào não thuộc về ý thức, khi nó hoạt động thì không vượt qua được không gian và thời gian, vì thế khoảng cách xa, như ngăn sông, cách núi, hoặc dưới lòng đất, dưới đáy biển đại dương, v.v... thì nó không thể thấy biết được. Về thời gian, nó bị chia cắt có quá khứ, vị lai và hiện tại, quá khứ nó không nhớ biết, vị lai thì mờ mịt không rõ. Ngược lại, nhóm tế bào não bộ thuộc về tưởng thức, khi nó hoạt động thì nó vượt qua hàng rào không gian và thời gian, nên thời gian và không gian không còn chia cắt và trải dài. Vì thế nó bắt gặp hay nói cách khác là giao cảm với những gì đã xảy ra ở quá khứ và vị lai.
Ở trường hợp này nhóm tế bào não tưởng thức của anh Nhã thì quá rõ ràng, không có trạng thái đồng cốt như cháu Bích Hằng, nhưng nó hoạt động chưa chính xác 100%. Vì tưởng thức của anh tự nó hoạt động chứ không phải do anh triển khai, điều khiển, nên mức độ hoạt động của nó chưa hoàn chỉnh và chính xác.
Khi tưởng thức hoạt động thì anh Nhã cảm thấy như mình không chủ động, tự trong đầu nó điều khiển như thế nào thì anh làm theo như thế ấy, nhưng ý thức của anh vẫn biết rõ ràng, thậm chí những âm thanh nói trong tai, anh vẫn nghe và biết rõ. Xét trường hợp trong đầu anh Nhã, thì trong đầu anh làm việc hai phận sự:
1- Làm việc bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là không vượt ra khỏi thời gian chia cắt và không gian trải dài hay bị ngăn cách.
2- Làm việc không bị hạn cuộc trong không gian và thời gian, có nghĩa là vượt qua không gian và thời gian. Sự làm việc này gọi là làm việc trong vô thức.
Người tu theo đạo Phật khi nhập được Tứ Thánh Định thì người ta hiểu biết rất rõ ràng. Trường hợp anh Nhã, ý thức của anh kết hợp với tưởng thức của anh hoạt động hai mặt:
1- Hữu thức
2- Vô thức
Tóm lại trường hợp của anh Nhã trong một bộ óc của anh làm việc hai phận sự hữu hình và vô hình, hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn là bộ óc anh có phần làm việc bị hạn cuộc không gian và thời gian và có phần làm việc không bị hạn cuộc không gian và thời gian, nhưng chưa chính xác 100%.
Cho nên sự bí ẩn của anh Nhã không có gì bí ẩn, anh sử dụng được những tế bào não ý thức và những tế bào não tưởng thức, khiến chúng hoạt động khi ý muốn anh khởi ra.
Tóm lại, sự bí ẩn của anh Nhã thì không có gì là bí ẩn cả, chỉ có bộ óc của anh làm việc được hai phần: “phần ý thức và phần tưởng thức”.

Trường hợp cháu Bích Hằng thì không giống trường hợp anh Nhã, hiện tượng của cháu Hằng xảy ra giống như có một linh hồn người chết nhập vào như thật.
Khi trực tiếp chứng kiến năng lực của tưởng uẩn con người. Nhất là trường hợp của cháu Bích Hằng, khiến cho giáo sư Trần Phương không còn đứng vững trên lập trường khoa học nữa, ông đặt ra nhiều câu hỏi: “Như vậy linh hồn phải tồn tại dưới một dạng vật chất nào đó, có hình thù, có khả năng phát ra tiếng nói. Đã là một dạng vật chất thì vật lý học, hóa học, y học, sinh học v.v...Với những phương tiện quang học và điện tử tinh vi, hẳn có ngày tìm ra. Các nhà khoa học Việt Nam có thể đóng góp gì theo hướng đó?”
Còn lâu lắm các nhà khoa học Việt Nam mới có thể chứng minh và giải thích những hiện tượng đó bằng hóa học, sinh học, y học, lý học, v.v...Còn bây giờ thì sao? Hay để cho nhân dân Việt Nam sống trong mê tín, phải chịu tốn hao với một số tiền bạc vô nghĩa (đốt tiền vàng mã, cúng sao giải hạn, cầu an, cầu siêu, v.v...).
Khi đọc bài của giáo sư Trần Phương, chúng tôi thấy, nếu bài này được phổ biến sâu rộng trong khắp nước, mà các nhà khoa học Việt Nam không có tiếng nói, thì chắc chắn nạn mê tín, dị đoan sẽ lan rộng khắp nơi. Và sẽ có một số người lợi dụng trường hợp này mà gây tạo ra nhiều loại mê tín khác nữa để lừa đảo người.
Chúng tôi đọc bài tâm nguyện của một cư sĩ M.N.C.S ở Long Hải nói rằng: “Những nhà ngoại cảm này thường khoe khoang, nhà nước đang tìm kiếm những người tài như họ để trưng dụng về việc quốc phòng”. Lời nói này chúng tôi e rằng những hạng người này “thừa nước đục thả câu”, lợi dụng trạng thái tưởng thức không có không gian và thời gian, giao cảm mọi sự việc xảy ra tạo dựng thế giới siêu hình để lừa đảo mọi người, chứ từ xưa đến giờ chưa có lịch sử nước nào ghi công lao của những người làm đồng, cốt và những nhà ngoại cảm, nhờ lên đồng, nhập cốt và ngoại cảm mà ngăn giặc, đuổi giặc, giữ nước, dựng nước, bắt những kẻ trộm cướp giết người, hiếp dâm, giữ gìn trật tự, an ninh cho quê hương, xứ sở.
Vì biết rằng các nhà khoa học không thể chứng minh được những hiện tượng hoạt động của tưởng thức, nên trong các tôn giáo người ta cố ý tu tập để triển khai tưởng thức hoạt động ngõ hầu lấy đó tạo dựng thế giới siêu hình và thần thông để lừa đảo mọi người. Vì không nhận ra những hiện tượng đó nên mọi người tin tưởng gia nhập vào tôn giáo, nuôi hy vọng khi chết đi sẽ được sanh về nơi đó (Cực Lạc, Thiên Đàng, Niết Bàn), hay có những thần thông pháp thuật.
Do phong thổ, thời tiết, thức ăn nước uống tại địa phương, hoặc do tai nạn xảy ra gây ảnh hưởng não bộ, hoặc sự phát triển hoạt động của não bộ không đồng đều, khiến cho tưởng thức hoạt động nhiều hơn ý thức (trường hợp cháu Bích Hằng), hoặc ý thức và tưởng thức cùng hoạt động (trường hợp như anh Nhã) Vì thế biến họ từ một con người bình thường trở thành đồng, cốt và các nhà ngoại cảm. Một con người có khả năng đặc biệt.
Chúng ta không hiểu được năng lực của tưởng thức khi nó hoạt động không giống như ý thức chút nào cả:
1- Nó hoạt động rất đặc biệt tại một điểm, nên không có không gian và thời gian, khoa học không thể chứng minh được.
2- Nó giao cảm được mọi âm thanh sắc tướng, vì các từ trường của nó. Các nhà khoa học có thể chứng minh được.
3- Nó biến hiện ra muôn hình sắc tướng của những người đã chết không sai một nét nào cả. Đó là năng lực duyên hợp của tưởng thức. Các nhà khoa học không thể chứng minh được, vì nó không phải là vật lý học, hóa học, y học, sinh học, v.v...
4- Nó tạo ra một người thứ hai đang tiếp chuyện với ý thức của nó. Đó là năng lực hợp duyên của tưởng thức, khoa học không thể chứng minh được.
5- Vì không có không gian, nên nó nhìn suốt trong lòng đất thấy mọi vật và bất cứ địa phương nào ở nơi đâu, cách xa bao nhiêu, nó cũng biết được. Khoa học có thể chứng minh được vì đó là từ trường của tưởng thức.
6- Vì không có thời gian nên bất cứ chuyện gì đã xảy ra hoặc sắp xảy ra bao lâu nó cũng biết được. Và biết một cách rất cụ thể. Đó là từ trường của tưởng thức giao cảm và bắt gặp những hành động, hình ảnh và âm thanh của mọi sự việc đã xảy ra còn lưu lại trong môi trường sống, khoa học có thể chứng minh được.
Cũng như những sự việc sắp xảy ra trong môi trường sống nhân quả của mỗi con người, nó đều bắt gặp và giao cảm được cả, khoa học không có thể chứng minh được.
Hiện giờ giáo sư Trần Phương hy vọng vào các nhà khoa học Việt Nam, quang học và điện tử tinh vi để giải đáp: “Linh hồn có hay không?”, nhưng giáo sư phải còn chờ đợi lâu lắm, có lẽ giáo sư sẽ chết mất mà những câu hỏi này chưa được giải đáp.
Là một nhà tu tập thiền định theo Phật giáo, tự bản thân chúng tôi đã trực tiếp truy tìm thế giới siêu hình để thấy, nghe, hiểu biết, thì chúng tôi biết nó từ đâu xuất hiện những hiện tượng đó. Vì thế chúng tôi xác định quả quyết: “Thế giới siêu hình không có, chỉ là năng lực tưởng thức của mỗi con người còn đang sống tạo ra, chứ người chết rồi thì không còn lưu lại một vật gì cả”. Xưa, thái tử Sĩ Đạt Ta khi tu thành Phật, Ngài cũng xác định: “Thế giới siêu hình là thế giới của tưởng tri”.
Câu hỏi thứ hai của giáo sư nêu lên tình cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh cãi của linh hồn để rồi nêu lên câu hỏi: Có một thế giới linh hồn ngoài thế giới con người đang sống không? Thế giới linh hồn hoạt động như thế nào? Có khả năng tác động gì vào thế giới của con người đang sống? Để đáp ứng mong muốn của linh hồn người thân, người sống dâng đồ cúng lễ, tiền bạc đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mã) là đúng hay nhảm nhí? Linh hồn có tiêu vong đi không, hay là tồn tại mãi mãi?
Để trả lời những câu hỏi này:
1- Ngoài hai trạng thái hình và bóng của cuộc sống con người hiện hữu trên hành tinh này, thì không còn có thế giới linh hồn nào khác nữa. Thế giới linh hồn mà người ta cảm nhận được là do năng lực của tưởng thức trong mỗi người giao cảm mà tạo ra. Năng lực ấy được phát triển là do tu tập các loại thiền định tưởng hoặc bị tai nạn hay bị một cú “sốc” gì trong cuộc đời, khiến cho phần nhóm tế bào não tưởng thức hoạt động, đó là trường hợp của các nhà ngoại cảm.
2- Vì không có thế giới linh hồn nên nó không có sự sinh hoạt riêng, không có sự sống riêng. Do tưởng thức của con người còn đang sống, nên sự sinh hoạt của nó cũng mang đầy tính chất của con người: tình cảm vui, buồn, quan tâm, ước muốn, giận dữ, tranh cãi v.v...Nếu quả chăng có thế giới linh hồn của con người thì phải có sự sinh hoạt khác hơn con người, từ thực phẩm ăn uống, đến tình cảm, truyền thông, diễn đạt v.v...
3- Nếu có khả năng tác động vào con người thì có hai góc độ:
a- Gia hộ con người, giúp cho con người tiêu tai, thoát nạn, bệnh tật tiêu trừ.
b- Hủy diệt loài người để cho thế giới linh hồn tăng trưởng.
Trong hai điều kiện trên đây đều phi đạo đức và phi nhân quả cả. Vì thế, nên thế giới linh hồn không được loài người chấp nhận. Nếu con người chấp nhận nó, là tự con người làm khổ mình, khổ người.
Thế giới linh hồn của con người do năng lực tưởng thức của người còn sống tạo ra thì có hai trường hợp:
1- Không tin nó là thế giới linh hồn của người chết, mà biết sử dụng năng lực tưởng thức đó áp dụng vào cuộc sống hiện hữu của con người thì rất có lợi ích như: tìm hài cốt liệt sĩ, báo động trước những tai nạn sẽ xảy ra v.v...
2- Nếu tin nó là thế giới linh hồn của con người, thì đó là một tai họa rất lớn, gây cho chúng ta bệnh tật và tai nạn “tiền mất tật mang”. Nếu tin nó thì đời sống của chúng ta hoàn toàn bị lệ thuộc, mất tự chủ, sống thiếu đạo đức.
Vì thế giới linh hồn không có, người thân chúng ta chết, nghiệp lực đã tiếp tục tái sanh luân hồi còn đâu mà cúng lễ, tiền bạc, đồ dùng hằng ngày (dưới dạng vàng mã) hay tụng kinh cầu siêu v.v...thì đó là nhảm nhí.
Vì thế giới linh hồn không có thì làm gì có linh hồn tiêu vong hay tồn tại mãi mãi.
Ở đây, chúng tôi không suy luận để tranh cãi mà là sự chứng nghiệm của bản thân chúng tôi. Nhập vào trạng thái tưởng thức thì chúng tôi bắt gặp thế giới linh hồn của con người qua năng lực tưởng thức của chúng tạo ra, chứ không phải thế giới linh hồn của con người có sẵn. Vì thế chúng tôi biết rất rõ ràng.
Hầu hết mọi người đều có khả năng nhìn thấy linh hồn, nghe thấy tiếng nói của linh hồn, nhìn thấy hài cốt lắp vùi dưới lớp đất dày mấy mét v.v...không riêng gì cháu Bích Hằng, chỉ vì mọi người chưa được triển khai tưởng thức đúng mức, nên không thấy không nghe được như cháu Bích Hằng mà thôi.
Khả năng đặc biệt, ấy do một nhóm tế bào não của tưởng thức. Nếu các nhà y học và khoa học chịu khó nghiên cứu bộ não của con người thì sẽ khám phá ra rất dễ dàng.
4- Do sự không hiểu biết, giáo sư Trần Phương cho rằng: Những thông tin bí ẩn của anh Nhã, anh Liên, cháu Bích Hằng là những khả năng đặc biệt càng khó khám phá.
Sự thật không phải vậy. Bởi vì thế giới siêu hình không có, tức là không có linh hồn người chết, không có linh hồn thì làm sao có chất liệu quang học, y học, vật lý học mà khám phá. Nếu rời khỏi bộ óc con người mà khám phá thì chẳng bao giờ khám phá ra được thế giới linh hồn.
Cho nên, các nhà y học và khoa học hãy khám phá nơi bộ óc của một nhà ngoại cảm đang hoạt động, thì có thể sẽ khám phá ra từ những từ trường của những tế bào não tưởng thức phóng ra giao cảm với những từ trường còn lưu giữ trong không gian, những hình ảnh, âm thanh, sắc tướng, những hành động và tình cảm của mỗi con người trước khi chết. Đó là y học và khoa học có thể khám phá ra được. Nhưng có những điều mà khoa học và y học không thể khám phá ra được, đó là năng lực của tưởng thức, năng lực đó có thể biến tạo ra hàng vạn vạn triệu triệu linh hồn con người chết và mỗi linh hồn người chết, từ hành động cử chỉ, lời ăn, tiếng nói đến đặc tướng, cung cách không sai khác như người đó lúc còn sống. Nhất là những linh hồn do tưởng thức của nhà ngoại cảm biến hiện ra, lại nói chuyện với nhà ngoại cảm, nhà ngoại cảm hiện giờ như người trung gian nói lại cho chúng ta nghe những sự việc xảy ra mà chỉ có những người thân trong gia đình mới biết. Chúng tôi xin nêu lên một ví dụ để quý vị dễ hiểu hơn.
Trong giấc mộng chúng ta gặp lại ông, bà, cha, mẹ đã chết cách 10 năm hoặc 20 năm, cùng lúc trong đó chúng ta cũng gặp lại những người còn sống như anh, chị, em, cô, bác cùng bà con hàng xóm. Chúng ta đừng hiểu nông cạn là những linh hồn người còn sống cùng với những linh hồn người chết về gặp chúng ta trong giấc mộng. Nếu quả chăng những người còn sống xuất hồn gặp chúng ta thì những người ấy phải nằm mộng như chúng ta. Nhưng sự thật những người ấy không có nằm mộng. Như vậy những người gặp chúng ta trong giấc mộng là gì? Đó là do năng lực tưởng thức của chúng ta biến hiện ra, nó có thể biến hiện một số lượng người và xe cộ đông đúc như chợ Bến Thành, nó có thể biến hiện ra một thủ đô lớn như thủ đô Hà Nội, v.v...
Xét qua giấc mộng thì năng lực tưởng thức của giấc mộng chỉ bằng 1 phần trăm của tưởng thức cháu Hằng khi tìm hài cốt liệt sĩ, và khả năng tưởng thức còn gấp trăm triệu lần khả năng tưởng thức của cháu Hằng hiện giờ, khi nó làm những việc còn siêu việt hơn. Cho nên những nhà Khí công, nhà Nhân điện đều dùng khả năng của tưởng thức.
Giáo sư Trần Phương với hy vọng: “Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, xác nhận được sự tồn tại của linh hồn thì không những có ý nghĩa nhân văn mà còn có ý nghĩa về nhiều mặt khác, kể cả về hình sự (nếu người bị giết mà nói ra thì kẻ giết người tránh sao khỏi tội?), không những có ý nghĩa quốc gia, mà còn có ý nghĩa quốc tế”.
Sự hy vọng của giáo sư Trần Phương không thể thành đạt được, là vì linh hồn không có, chỉ có năng lực tưởng thức tạo ra.
Vì thế, Thiền xuất hồn là một phương tiện tu tập khai triển năng lực của tưởng thức. Khí công là một môn võ học tập luyện để triển khai năng lực tưởng thức, Mật Tông cũng là một pháp môn triển khai sự mầu nhiệm của năng lực tưởng thức, Nhân điện cũng là một phương pháp triển khai năng lực tưởng thức để trị bệnh, Tịnh Độ Tông triển khai năng lực tưởng thức tạo ra thế giới siêu hình Cực Lạc Tây Phương, Thiền Tông là một pháp môn tu tập triển khai năng lực tưởng giải ảo giác, Chân không, Phật tánh v.v...
Cho nên từ trong các tôn giáo cho đến những người có kiến thức khoa học còn nông cạn và chưa thấu suốt nền đạo đức nhân bản nhân quả, nên tin rằng có thế giới linh hồn người chết, đó là một điều mê tín, lạc hậu mà trong thời đại này không thể tha thứ được.
Vì sự thật hiển nhiên, là không có thế giới linh hồn người chết, mà chỉ có sự biến hiện do năng lực tưởng thức của con người còn sống tạo ra. Vì thế Trung Tâm nghiên cứu tiềm năng con người có ra đời cũng chỉ loanh quanh nghiên cứu trong đống sách cũ của những người xưa, toàn là sách tưởng do những nhà tưởng học để lại. Nếu có nghiên cứu xa hơn thì cũng dựa vào những nhà Nhân điện tưởng, Khí công tưởng, Xuất hồn tưởng, Võ công tưởng, Thiền tưởng, Định tưởng, Thần chú tưởng, Ngoại cảm tưởng v.v... Thì cũng không thể nào giải quyết được những gì mà giáo sư mong đợi. Còn nếu đem những nhà ngoại cảm này áp dụng vào hình sự thì chúng tôi e rằng không chính xác, vì các nhà ngoại cảm không phải tự mình điều khiển cái năng lực đó, mà chính cái năng lực tự động của tưởng thức đó điều khiển họ, nên có khi chính xác và có khi không chính xác, có nghĩa là tưởng thức của họ, lúc làm việc, lúc không làm việc. Cũng giống như trường hợp anh Nhã, lúc nó làm việc thì chính xác, lúc nó không làm việc thì anh mò mẫm như người mù dò đường.
Cho nên đem những hình bóng biến hiện linh hồn người chết của tưởng thức vào việc lấy hài cốt liệt sĩ thì tốt nhất, còn về việc hình sự và quốc phòng thì cũng chẳng khác nào đem sự mê tín vào những vấn đề quan trọng của đất nước, thì chúng tôi e rằng không có lợi mà có hại nhiều hơn.
Bởi vì các nhà ngoại cảm không điều khiển được tưởng thức của mình mà bị tưởng thức của mình điều khiển lại mình.
Tóm lại bài này viết, vì lợi ích cho mọi người trên hành tinh này, chúng tôi nói lên sự thật, sự thật 100%. Chúng tôi nói lên không cần quý vị tin, mà chỉ cần đem lại sự lợi ích cho quý vị, để quý vị trở thành những người không mù mờ, không dại dột bị kẻ khác lợi dụng tưởng thức của mình lừa đảo. Tưởng thức như con dao hai lưỡi, nếu quý vị biết dùng nó, thì nó lợi ích cho quý vị, còn quý vị không biết dùng nó, thì nó trở lại làm khổ và làm hại quý vị.
Sự thật là sự thật, không thể nói khác được, chúng tôi nêu lên một sự thật, thời gian và sự tiến bộ của loài người sẽ xác chứng những điều này, những điều chúng tôi đã nói ngày hôm nay “Thế giới linh hồn là do tưởng tri”.
(Nguồn: Đường về xứ Phật, III - Trưởng lão A la hán Thích Thông Lạc)
Thứ năm, 02/04/2009 - 08:43:am

Ngày xuân, người ta thường hay đi chùa chiền, lễ hội, vừa để cầu mong sự an khang, thịnh vượng, phát lộc, phát tài, vừa là một thú vui du ngoạn. Thiết nghĩ, cũng nên bàn về chuyện “Tĩnh tâm”.
Tĩnh tâm” là kệ của nhà Phật, là một triết lí của đạo Phật. “Tĩnh tâm” là một hình thức tu tâm, sửa đổi lòng mình, để cho tâm được yên tĩnh, trong sạch và thanh thản, thoát khỏi những cám dỗ của đời thường, những ham muốn trần tục bất chính. Một trong những đoạn nổi tiếng của kệ “Tĩnh tâm” được nói như thế này:
…Danh, lợi, thế, quyền như bọt nước,
Tiền tài, vật chất tợ (tựa) sương sa,
Trăm năm không đạo, gây thêm tội,
Một kiếp biết tu, khỏi lạc đường.
Đạo Phật quan niệm: Danh vị trong xã hội, lợi lộc, quyền thế, chức tước đáng xem nhẹ, chỉ sủi lên như bọt nước mà thôi; tiền tài và vật chất cũng chỉ như sương sa, như một hơi nước, một cái bóng mờ. Con người không biết tu dưỡng đạo đức chỉ gây thêm tội lỗi; nhưng nếu biết tu thân, tích đức thì mới trở nên người tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Triết lí “Tĩnh tâm” của đạo Phật được đúc kết qua thực tiễn hàng nghìn năm, có giá trị nhân văn và nhân đạo rất sâu sắc, cao rộng; bởi nó khuyên con người biết sống có nghĩa, có nhân!
Trong cuộc sống xưa nay, nhiều người đã noi theo được lời dạy tiến bộ của đạo Phật: Không ham hưởng thụ, không ham tiền tài, danh vọng, lợi lộc bất chính. Các bậc danh sĩ nước ta như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu v.v… là những tấm gương cực kì sáng láng về quan niệm sống “tĩnh tâm”.
“Tĩnh tâm”- tức tu tâm- cũng chính là “tu thân”- nghĩa là luôn luôn biết sửa mình, để bản thân ngày càng trở nên tốt đẹp. Và, Bác Hồ kính yêu của chúng ta, người cộng sản vĩ đại, cũng là một điển hình về triết lí “tĩnh tâm” rất cao cả. Bác nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào.
Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng làm, như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc, để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” (Bài “Trả lời các nhà báo”, 21-1-1946; xem: “Hồ Chí Minh- Toàn tập”, NXB CTQG, Hà Nội, năm 2000, tập 4, tr. 161).
Song, rất đáng tiếc là ngày nay, nhiều người đi chùa chiền và thờ Phật, nhưng lại sống trái ngược với triết lí “Tĩnh tâm”, không chịu tu tâm! Họ cốt sống vị kỉ, vô cảm với cộng đồng và thờ ơ với lợi ích quốc gia, dân tộc. Họ chạy theo danh vị, tiền tài, vật chất, lợi lộc, ham muốn hưởng thụ bằng mọi giá, kể cả bán rẻ nhân phẩm của mình. Chia rẽ đoàn kết; trù dập người tài, người lương thiện để đua chen vào chức quyền. Làm ăn giả dối, buôn bán gian lận, điêu ngoa. Ham hưởng thụ, ham tiền, ham vật chất mà cướp của, giết người, trộm cắp, lưu manh.
Rồi những thói côn đồ hung hãn, quậy phá, bất chấp luật pháp, cũng do không biết “tĩnh tâm” mà ra; v.v… Tóm lại, tất cả những chuyện bất lương- suy cho cùng- là do không biết “tĩnh tâm”, không tu thân, tích đức. Chao ôi, đã bất lương thì đến chốn chùa chiền, lầm rầm khấn vái Trời Phật, phỏng có ích gì?
Vậy nên, “Tĩnh tâm” không phải là tư tưởng siêu hình, siêu thoát. “Tĩnh tâm” không phải là lối sống vị kỉ, thoát li xã hội, chạy trốn trách nhiệm công dân. “Tĩnh tâm” cũng không phải là lối “sống chậm”( đối lập với lối sống gấp- lối sống hiện sinh) như một số người lầm tưởng.
“Sống chậm” chỉ là cách sống không vội vàng, thuần tuý sinh học- đâu phải theo quan niệm “tĩnh tâm”! Trái lại, “tĩnh tâm” là tu nhân tích đức, luôn luôn sửa mình để sống cho trong sạch và giúp ích quốc gia, dân tộc. Đây chính là một vẻ đẹp văn hoá rất cao cả- vừa là văn hoá tâm linh, vừa là văn hoá thiết thực của cuộc sống muôn đời!
Đào Ngọc Đệ (Theo Người Cao Tuổi)