Blog
Các bài viết thuộc thể loại "Giải trí khác"

Tổng số bài viết: 16

Sắp xếp theo: Hiển thị:

      Không chỉ đơn thuần là đồ trang sức, không chỉ mang ý nghĩa duy nhất là gắn kết hai tâm hồn đang yêu lại với nhau, chiếc nhẫn “ ngự ” trên ngón tay mang lại nhiều thông điệp hơn thế.

 


     Thời cổ đại Trung Quốc, Phi tần của các Hoàng đế lúc bình thường đeo nhẫn bằng bạc ở tay phải, nhưng đến khi có mang lại đeo nhẫn bằng vàng ở bên tay trái. Vì  chiếc nhẫn có ý nghĩa cấm kỵ, cấm giới nên nó mới có tên là “ giới chỉ ”.

 

     Ở phương Tây, người ta cho rằng chiếc nhẫn có từ thời Ai Cập cổ đại. Trong thời kỳ này, trên ngón tay trái của các vương tôn quý tộc đều đeo nhẫn dát ngọc quý có hình một con bọ cánh cứng . Theo truyền thuyết thì loại nhẫn này có tác dụng trừ tà ma, yêu quái, bảo vệ cho người đeo nó.

 

 

 

     Sau này, khi thói quen đó được truyền tới Châu Âu thì ý nghĩa đầu tiên của việc đeo nhẫn cũng đã thay đổi. Chiếc nhẫn được gán cho nhiều ý nghĩa tượng trưng khác.

 

      Dưới thời cổ La Mã đã từng có quy định: Chỉ các nhân vật quý tộc mới được đeo nhẫn bằng vàng, còn người bình thường chỉ được đeo nhẫn bằng sắt, trên nhẫn thường khắc họ  tên, thân phận, lời chúc tụng, còn nhẫn của các quý tộc thường là những con dấu để đóng trên các văn kiện. Khi chủ nhân chết, nhẫn cũng bị thiêu hủy theo.

 

    Các Hồng y Giáo chủ thường đeo một chiếc nhẫn bằng ngọc quý ở ngón giữa của bàn tay phải tượng trưng cho “ Thánh  linh ”, các linh mục đeo nhẫn bằng vàng trên ngón trỏ tượng trưng cho “ Đức cha con ”.

 

     Ở các nước phương Tây, nhẫn còn có ý nghĩa nữa là xác định quan hệ hôn nhân. Con trai, con gái chỉ cần trao nhau những chiếc nhẫn có khắc tên, lời chúc phúc rồi đeo trên ngón tay vô danh bàn tay trái ( ngón áp út ), thế là hai bên gắn bó tâm linh với nhau đến tóc bạc răng long.

 

     Bất luận đám cưới có được tổ chức theo nghi thức tôn giáo, dân tộc hay không, hành động trao nhau nhẫn của đôi tình nhân vẫn được xem là biểu tượng cho hôn nhân trên toàn thế giới.

 

 

 

 

     Crystal Cathedral là nhà thờ Tin lành tọa lạc trong thành phố Garden Grove, ở Orange County, California, Mỹ, được làm từ 10.000 ô kính.

 

     Nhà thờ kính do kiến trúc sư Philip Johnson sáng tạo nên, cũng là công trình xây dựng bằng kính lớn nhất thế giới. Nơi đây có thể chứa được 2.900 tín đồ. Bên trong nhà thờ có 273 hàng ghế. Crystal Cathedral cũng là nơi sở hữu cây đàn ống lớn nhất thế giới.

 

     Những người thợ xây đã sử dụng keo silicon để ghép các ô kính lại. Nhà thờ tưởng như rất thanh mảnh này có thể trụ vững trong trận động đất 8 độ richter.

 

Hình ảnh nhà thờ Crystal Cathedral, ảnh trên Pravda:

 



 

      Ta cho phép người đàn ông say giấc để anh ta không quấy rầy sự sáng tạo và để ta có thể kiên trì hoàn thiện vẻ ngoài của ngươi...

       Từ một mảnh xương, ta tạo ra ngươi. Ta chọn phần xương sườn, dùng bảo vệ cuộc đời người đàn ông, bảo vệ trái tim và lá phổi của anh ta, phần xương nâng đỡ anh ta - đúng nghĩa với điều ngươi phải làm. Ta tạo hình ra ngươi, một cách hoàn hảo và xinh đẹp. Đặc điểm của ngươi là một cái xương sườn, mạnh mẽ lẫn yếu đuối và mỏng manh. Ngươi phải bảo vệ phần mỏng manh nguyên thủy nhất trong người đàn ông - đó là trái tim anh ta. Trái tim là trung tâm của người đàn ông, lá phổi cho anh ta hơi thở.

     
Khung xương sườn sẽ bị gẫy trước khi trái tim bị hủy hoại. Nâng đỡ người đàn ông như khung xương sườn nâng đỡ cơ thể. Ngươi không được lấy ra từ chân - phần ở dưới anh ta, ngươi không được lấy ra từ đầu - phần ở trên anh ta. Ngươi được lấy ra từ bên cạnh, để ngươi luôn bên cạnh và sát cánh với anh ta.

      Ngươi là thiên thần hoàn hảo của ta, cô gái nhỏ xinh đẹp của ta. Ngươi sẽ trở thành người phụ nữ lộng lẫy, thông minh. Đôi mắt ta sẽ nhìn thấy đức hạnh chứa đầy tim ngươi. Đôi mắt ngươi đẹp. Đôi môi ngươi sẽ đáng yêu làm sao khi nói những lời nguyện cầu. Lỗ mũi ngươi quá hoàn hảo. Đôi bàn tay ngươi thanh nhã để được chạm vào. Ngươi rất đặc biệt bởi ngươi là phần mở rộng của ta. Đàn ông tượng trưng cho vẻ ngoài của ta - đàn bà tượng trưng cho cảm xúc của ta.

 


      Vì thế, người đàn ông hãy cư xử tốt với người phụ nữ. Yêu cô ấy, tôn trọng cô ấy, bởi vì cô ấy mỏng manh. Làm tổn thương cô ấy, anh làm tổn thương ta. Làm đau đớn cô ấy, chính là anh đang hủy hoại trái tim mình, trái tim của cha anh, trái tim của cha cô ấy.

      Còn người đàn bà, hãy khiêm nhường cho anh ấy thấy quyền năng của cảm xúc ta đã cho ngươi. Trong sự điềm đạm nhã nhặn, hãy chứng tỏ sức mạnh của ngươi. Trong tình yêu, hãy cho anh ta thấy, ngươi là chiếc xương sườn bảo vệ phần bên trong của anh ta.

      Bạn đã biết người phụ nữ đặc biệt đến thế nào trong mắt của Đức Chúa Trời  ???

 

 

- Tìm hiểu về Đức Mẹ đồng trinh Maria.

Thứ năm, 13/08/2009 - 03:40:pm

     Theo Tân Ước, Maria ( Mary ) chính là mẹ của Giêsu Nazareth, hôn thê của Thánh Giuse. Maria được tôn kính trong đức tin Cơ Đốc giáo, đặc biệt là trong Giáo hội Công giáo La Mã và Chính Thống giáo Đông Phương và được gọi là Đức Mẹ. Còn trong Tin Lành và Hồi Giáo, Maria cũng được nhìn nhận cách đặc biệt. Ngày lễ mừng kính được Công giáo La Mã, Chính thống giáo Đông phương và Anh giáo cử hành vào ngày 8 tháng 9, ngoài ra còn có một số ngày lễ khác trong năm.

 

Maria trong Tân Ước


     Tiểu sử về Maria được biết đến rất ít trong Tân Ước. Maria có họ hàng với Elizabeth (vợ của tư tế Zachariah) thuộc dòng dõi Aaron (Luke 1:5, 1:36). Theo phỏng đoán thì Maria sống cùng với cha mẹ tại Nazareth, xứ Galilee khi đã đính hôn với Joseph (Giuse), dòng dõi nhà David. Một số học giả bảo thủ cho rằng, Joseph là con cháu Vua David (vì nhiều suy đoán hợp với phong cách ngôn từ và và việc giới thiệu gia phả trong Phúc Âm Matthew). Trong thời gian đã hứa hôn (là thời kì đầu theo phong tục Do Thái), Maria được thiên thần Gabriel đến báo tin rằng cô sẽ trở thành mẹ Đấng Messiah theo ý định của Thiên Chúa. Joseph chưa nhận ra việc mang thai của Maria là do quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Thần nên tỏ ra băn khoăn và muốn bỏ Maria cách kín đáo. Nhưng trong một giấc mơ, Joseph được thiên thần bảo đừng lo nghĩ mà hãy nhận Maria về làm vợ mình để hợp với lề luật.

 

     Khi được thiên thần báo tin về việc người chị họ Elizabeth mang thai lúc tuổi già, Maria vội vã đến thăm Elizabeth (Luke 1:39). Vừa đến nhà, Maria thiết tha gọi Elizabeth thì được Elizabeth đáp lời bằng câu: "Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" và họ đã đọc một bài Thánh ca Ngợi khen mà được biết đến nhiều với cái tên Magnificat (Luke 1:46). Ba tháng sau, Maria quay trở về nhà mình. Theo Phúc âm Luke, một sắc lệnh của Hoàng đế La Mã Augustus quy định, Joseph phải cùng hôn thê mình lên Jerussalem để đăng kí nhân khẩu. Khi họ đang ở Jerussalem, Maria đã sinh ra Giêsu và đặt con trẻ trong chiếc máng cỏ vì họ không tìm được nhà trọ nghỉ chân. Sau tám ngày, con trẻ được cắt bì và gọi tên là Giêsu, đúng như những gì Joseph được thiên thần chỉ dạy trong giấc mơ. Sau cuộc viếng thăm của ba nhà đạo sĩ Phương Đông, gia đình Nazareth phải lánh sang Ai Cập. Khi Vua Herod "Cả" chết, họ mới quay trở về. Năm 12 tuổi, trên đường trở về Jerussalem sau Lễ Vượt Qua, Maria và Joseph bị lạc mất Giêsu và họ tìm thấy trong Đền Thờ đang trò chuyện cùng với những thầy dạy. Sau khi Giêsu chịu phép rửa bởi John the Baptist và bị ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, Maria lại được biết đến trong một tiệc cưới ở Cana, khi đó, Giêsu đã biến nước lã thành rượu và bắt đầu công việc giảng đạo (Jonh 2:1-11). Trong Mark 6:3, Maria còn được giới thiệu cùng với những người anh em của Giêsu: "Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông James, Jpseph, Judas và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?". Trong cái chết của Giêsu, Maria đứng cạnh người môn đệ Giêsu yêu quý, cùng với bà Maria vợ ông Clopas và bà Maria Magdalene (John 19:25-26). Maria cũng là người đã ôm xác Giêsu nhưng chi tiết này không được ghi chép trong Kinh Thánh, đó là một mô-típ nghệ thuật phổ biến gọi là "pietà" hoặc "piety" (tạm dịch là "Mẹ đồng trinh ôm xác Chúa").

 

     Kể từ lúc này, Maria không còn được nhắc đến trong Kinh Thánh, dù vậy, vẫn được một số nhóm Cơ Đốc giáo nhớ đến, đặc biệt liên tưởng đến hình ảnh Người phụ nữ và con mãng xà trong Sách Khải Huyền. Việc Maria qua đời cũng không được Kinh Thánh ghi chép. Nhưng Phúc âm James (không được xem là một bộ phận của Tân Ước) còn cung cấp những tư liệu về Maria, và được Chính thống giáo Đông phương coi là hợp lý: Maria là con gái của Joachim và Anna. Trước khi có thai Maria, Anna được coi là hiếm muộn. Khi Maria ba tuổi, họ đưa Maria đến sống trong Đền Thờ Jerussalem, điều này trùng hợp với sự kiện Hana đưa Samuel vào Lều Thánh được ghi trong Cựu Ước.

 

      Công giáo La Mã và Chính thống giáo Đông phương tin rằng, trong khoảng 13 đến 15 năm sau khi Chúa Giêsu lên trời thì Maria qua đời (có thể tại Jerussalem hoặc Ephesus) trong sự chứng kiến của các Tông đồ. Sau đó không lâu, các Tông đồ mở hầm mộ Maria ra thì bên trong chẳng còn gì, và họ xác quyết rằng xác Maria đã được mang về Thiên Đàng. (Nhưng mãi đến Thế kỉ thứ 6 người ta mới tìm ra ngôi mộ này tại Jerussalem)


Niềm tin


     Một số niềm tin tương đồng và dị biệt về Maria giữa Công giáo và Hồi giáo.

 

Công giáo Hồi giáo


     Là mẹ Thiên Chúa: Vì tin rằng Giêsu vừa là Thiên Chúa, vừa là con người, nên mẹ của Người cũng là mẹ của Chúa Mẹ của tiên tri Giêsu: Vì không tin Giêsu là Thiên Chúa làm người, mà chỉ là một nhà tiên tri mà thôi


     Trọn đời đồng trinh: Giuse là hôn phu, nhưng Mary vẫn đồng trinh trọn đời Trọn đời đồng trinh: Sau khi sinh hạ tiên tri Giesu sống suốt đời đồng trinh


     Người nữ được nhiều ơn phúc nhất vì cưu mang Giêsu Người nữ được nhiều ơn phúc nhất vì cưu mang Giêsu.Cao trọng nhất trên thiên đàng Cao trọng nhất trên thiên đàng.Cả hồn và xác đều được lên trời Chết và được chôn như người bình thường. 

     Vô nhiễm nguyên tội Không tin vào nguyên tội, vì thế không có khái niệm Vô nhiễm nguyên tội

 

 

- Tại sao ! Chúng ta lại nhắm Mắt ...???

Thứ hai, 03/08/2009 - 03:02:pm

    

 

     Tại sao chúng ta lại nhắm mắt khi ngủ, khi khóc , khi cầu nguyện, khi tưởng tượng và khi hôn nhau. Bởi vì những điều tốt đẹp nhất thế gian không thể nhìn thấy bằng mắt mà phải cảm nhận bằng con Tim.

 

     Khi bạn nhận được tin nhắn này…thì hãy cười đi nhé ! Vì ít nhất đâu đó quanh đây…có một người luôn mong bạn hạnh phúc…vui vẻ…và luôn yêu đời. Nhưng nếu ...thì sẽ có một vài người mỉm cười và cảm ơn.

 

Smile again !!!

 

 

 

Nhà thờ Cam Ly - Đà Lạt .

Thứ hai, 13/07/2009 - 03:00:pm

Nhà thờ Cam Ly

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
      Vị trí : - Nhà thờ Cam Ly nằm trên một quả đồi rất gần thác Cam Ly, thuộc thành phố Đà Lạt.


      Đặc điểm : - Nhà thờ Cam Ly có một kiến trúc độc đáo theo lối nhà rông của đồng bào Tây Nguyên.


      Trong số gần 100 công trình kiến trúc công giáo xuất hiện ở Ðà Lạt từ thập niên 1920 đến thập niên 1960, nhà thờ Cam Ly được xây dựng riêng cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vì thế nó mang một sắc thái độc đáo khác hẳn với các giáo đường dành cho người Kinh. Những người tạo tác nên ngôi nhà thờ đã thể hiện sự "hội nhập văn hóa" qua nghệ thuật kiến trúc khi cho gương mặt chúa trời hòa nhập với gương mặt của Yàng (trời) mà những người dân nơi đây đã nghìn năm sùng bái. 


      Khai sinh ra ý tưởng về ngôi nhà chung của Chúa và Yàng là linh mục người pháp Boutary và người thể hiện thành công ý tưởng này là nhà thầu Nguyễn Thanh Hồ. Công trình được khởi công vào cuối năm 1959 và hoàn thành tám năm sau đó. Nhìn ngang, hai mái giáo đường giống như lưỡi rìu, dốc đứng 17m, được lợp bằng 80.000 viên ngói với tổng trọng lượng tương đương 90 tấn. Ðể chịu đựng được sức nặng của ngôi nhà với cột, kèo, giằng bằng bê-tông, sắt và gỗ, móng của công trình đã được gia cố hết sức kỹ lưỡng. Riêng phần móng nhà thầu đã phải cật lực làm trong vòng nửa năm.Trước cổng chính nhà thờ là hai hình tượng hổ và phượng hoàng - những loài vật quen thuộc trong hiện thực và trong ý thức của đồng bào thiểu số. Hổ tượng trưng cho sức mạnh và phượng hoàng thể hiện cho sự tinh khôn. Mặt khác, các nhà tạo tác cũng ngầm ví von các cư dân Thượng có bản tính vốn như chúa sơn lâm nhưng đã trở nên tốt lành, thanh dịu như chim phượng nhờ các tín điều tôn giáo. Cùng tư duy đó, nội thất thánh đường còn xuất hiện nhiều hình ảnh các loài vật khác thể hiện bản tính của chúng như: sự trong sáng của nai, sự gần gũi của chim và cá... Ðặc biệt dưới chân thánh giá, bên cạnh cung thánh bằng gỗ thông có treo ba đầu trâu theo thứ tự cao thấp. Trâu là linh vật mà người thiểu số ở Tây Nguyên thường dùng làm vật phẩm để "giao tiếp" với Yàng của họ, trong trường hợp này là kính dâng Thiên Chúa như một thông điệp biểu lộ lòng sùng kính. 


      Sau ba khung cửa lớn là nội thất giáo đường với diện tích gần 400m², một không gian vừa u huyền, thâm nghiêm vừa khoáng đạt, phóng túng. Cảm giác đó có được là do hiệu quả các giải pháp kiến trúc. Nối với những bức tường lửng có độ cao khoảng 3m được xây bằng đá chẻ là hệ thống cửa kính mầu xanh-nâu-vàng trong các khung gỗ. Các khung cửa liền nhau và giáp mái này cùng với 20 vì kèo tương ứng đều được cách điệu từ hoa văn Tây Nguyên mà chủ đạo là hình vuông và hình tam giác - tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời trong môtip bản địa về quan niệm vũ trụ. Ðối xứng phải trái là 16 bức tranh đá trong đó có 14 bức diễn tả các chặng thương khó của Chúa Jesus và ngày ngài thọ nạn, phục sinh...Ở đây, cùng với nghệ thuật sắp đặt và giải pháp kiến trúc, các nhà tạo tác đã kết hợp hài hòa và thành công giữa tư duy mộc mạc, tự nhiên của đồng bào các dân tộc thiểu số với triết lý tôn giáo nhân bản và sâu sắc.
 
 
 
                 Hình ảnh Nhà thờ Cam Ly 3            
                                         
 

LỜI NGUYỆN KHÔNG THỂ THIẾU

Thứ sáu, 10/07/2009 - 10:14:am


LỜI NGUYỆN KHÔNG THỂ THIẾU


Lạy Chúa, chỉ mình Chúa,
Ngài mới là tấm Bánh Thánh nuôi dưỡng cho con,
Nhưng con lại có thể bẻ vụn tấm bánh đời mình cho anh em con.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là chén Máu Thánh bổ sức cho con,
Nhưng con lại có thể quảng đại mời anh em con uống lấy trọn đời con.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới trao tặng niềm tin,
Nhưng con lại có thể làm nên chứng tá sống động cho Chúa hôm nay.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới gửi đến niềm hy vọng,
Nhưng con lại có thể giúp anh em con tìm lại nguồn cậy trông.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới đốt lên được ngọn Lửa Mến,
Nhưng con lại có thể giúp anh em con học biết yêu thương.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới tác tạo hòa bình,
Nhưng con lại có thể ra đi gieo cấy tình đoàn kết hiệp nhất anh em.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là đấng ban sức mạnh thánh linh,
Nhưng con lại có thể nâng đỡ một tâm hồn anh em đang tuyệt vọng.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới thật sự là đường,
Nhưng con lại có thể chỉ đường cho anh em con bước đi.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là ánh sáng,
Nhưng con lại có thể làm cho ánh mắt anh em con thêm ngời sáng long lanh.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới là sự sống vĩnh cửu,
Nhưng con lại có thể đem đến cho anh em con niềm vui sống.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, Ngài mới thực hiện được những điều nan giải,
Nhưng con lại có thể làm được cái khả dĩ làm được trong tầm tay.

Lạy Chúa, chỉ mình Chúa, tự Ngài đã thực sự viên mãn,
Nhưng Ngài lại ưa thích cho con được cộng tác trong công việc của Ngài,
Nhưng Ngài lại ưa thích nương nhờ nơi con để cứu độ mọi người.


 

 

 

- Tìm hiểu về nhà thờ Đà Lạt .

Thứ năm, 09/07/2009 - 11:47:am

Nhà thờ Đà Lạt

 

                                                                                                                                                                                                                                                         

 
 
 
 
 
 
 
 
  

     Vị trí: Nhà thờ Đà Lạt nằm trên đường Trần Phú, thành phố Đà Lạt, gần khách sạn Novotel.

     Đặc điểm: Nhà thờ Đà Lạt là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của Đà Lạt.

     Đây là nhà thờ lớn nhất ở thành phố Đà Lạt, được gọi là nhà thờ Chánh tòa, hay ngoài ra còn cái tên dân gian là nhà thờ Con Gà vì trên đỉnh tháp chuông có tượng một con gà lớn. 

     Nhà thờ được xây dựng từ năm 1931 đến 1942, có chiều dài 65m, chiều rộng 14m và cao 47m. Với độ cao đó, tháp chuông của nhà thờ có thể được nhìn thấy từ nhiều nơi trong thành phố. Phần phía trên của tường được lắp 70 tấm kính màu mang dấu ấn của kiến trúc nhà thờ châu Âu thời Trung cổ. 

     Vào dịp Giáng sinh hằng năm, đây là nơi tập trung rất nhiều người cả trong và ngoài đạo đến dự lễ, tham quan. Ngoài ra, ở Đà Lạt còn rất nhiều nhà thờ nhỏ hơn trong đó Domaine de Marie (Lãnh địa Đức Bà) và nhà thờ Cam Ly mang những nét đặc trưng riêng.

                                     

 

 

Vị trí: Lãnh địa Đức Bà nằm trên một ngọn đồi thoáng đẹp thuộc đường Ngô Quyền, cách trung tâm thành phố Đà Lạt hơn 1km về hướng tây nam.


Đặc điểm: Lãnh địa mang một kiến trúc độc đáo theo phong cách Châu Âu thế kỷ 17 nhưng đã được thực hiện với vật liệu hoàn toàn của Việt Nam.

      Domaine de Marie hay Lãnh địa Đức Bà được xây dựng từ năm 1930-1943 là tên gọi cụm kiến trúc gồm nhà nguyện và hai dãy nhà phía sau của tu viện nữ tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn (Filles de la charité de saint Vincent de Paule). Ngôi nhà nguyện mới được quét lại màu sơn vàng với mái ngói đỏ nổi bật giữa bầu trời xanh và cây lá cũng rất xanh.Trong nhà thờ, đặc biệt có bức tượng Đức Mẹ đứng trên quả địa cầu được tạc theo hình mẫu người phụ nữ Việt Nam, do Janchère - kiến trúc sư người Pháp - thiết kế. Tượng cao 3m, nặng 1 tấn được làm năm 1943 và do bà Decoux dâng cúng. Phía sau nhà thờ có phần mộ phu nhân toàn quyền Decoux - bà Suzanne Humbert - ân nhân chính đã giúp xây dựng tu viện và có nguyện vọng được an nghỉ tại đây sau khi qua đời. Bà bị tai nạn giao thông tại đèo Prenn và mất ngày 06/01/1944. 

      Trước năm 1975, nơi đây là tu viện chính với hơn 50 nữ tu đa số là người Việt trụ trì và làm công tác xã hội như: mở cô nhi viện, nhà trẻ. Các nữ tu cũng điều hành một trường huấn luyện thể thao và một trường tiểu học dạy chương trình Pháp. Hiện nay ngoài nhà nguyện và hai dãy tu viện, các cơ sở khác đã được sử dụng cho công ích. Tuy dòng chính đã chuyển về thành phố Hồ Chí Minh, nhưng để thực hiện tôn chỉ của dòng là phục vụ người nghèo, các nữ tu vẫn đang có mặt trong nhiều môi trường xã hội như: duy trì một trường mẫu giáo bán công thu nhận khoảng 200 cháu, chăm sóc trẻ em chậm phát triển, giúp đỡ các cô nhi, chữa trị bệnh cho người nghèo, phục vụ bệnh nhân phong tại trại phong Di Linh, mở những lớp dạy nghề miễn phí cho người lao động gồm các môn: đan, móc, thêu, may. Trong âm thầm, tất cả như muốn nói “chỉ với lòng nhân ái chia sẻ, con người mới thật sự là đồng loại của nhau...” và đó cũng chính là tinh thần “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” như lời kêu gọi của hội đồng Giám mục Việt Nam gởi cộng đồng dân Thiên chúa năm 1980. 

      Từ sau năm 1975, tên Domaine được Việt hóa thành Đồi Mai Anh. Du khách đến đây nếu vào tham quan vườn hoa phía sau sẽ có dịp chiêm ngắm dàn Hài Tiên khá hiếm nở hoa thật đẹp.

                                                 

 

     Toạ lạc trên một khu đất rộng hơn 20 ha, khu thánh đường Phát Diệm (Kim Sơn - Ninh Bình) với công trình nhà thờ đá là sự kết hợp hài hoà, đặc sắc giữa nghệ thuật kiến trúc phương Đông và phương Tây. Nó mang một phong cách kiến trúc độc đáo, như một kỳ tích của thế hệ cha ông để lại cho đời sau, như sự hiện thân của chúa che chở cho linh hồn các con chiên.





     Trải qua hơn 100 năm lịch sử, nhà thờ đá Phát Diệm vẫn đang đứng vững với thời gian. Có thể nói, các thế hệ xưa đã có ý tưởng vô cùng độc đáo khi thiết kế xây dựng một nhà thờ toàn bằng đá mà không cần đến lõi bê tông cốt thép. Cụ Sáu là người đã thiết kế, sáng  tạo ra nhà thờ với những chi tiết vô cùng mới lạ. Cũng có thể do cụ không phải là người theo đạo Thiên chúa mà theo đạo Phật nên trong bản thiết kế của mình, cụ đã có sự kết hợp rất tài tình giữa kiến trúc nhà thờ phương Tây và kiến trúc mái uốn cong như mái đình trong đạo phật. Đây là điểm khác lạ mà các nhà thờ nơi khác không có được.





     Nhà thờ được làm bằng chất liệu chủ yếu là đá và gỗ. Trên từng phiến đá, phiến gỗ như  nở hoa khoe sắc với các đường nét khắc trạm tinh xảo. Đáng chú ý nhất là nghệ thuật điêu khắc đá vô cùng mềm mại, uyển chuyển, có những mảnh đá chỉ dày 3,5cm. Cả khu kiến trúc gồm có 9 vì kèo với 9 giai thợ khác nhau, do vậy mỗi vỉ kèo mang một nét văn hoá riêng biệt, thể hiện khiếu thẩm mỹ phong phú của những người thợ thủ công lành nghề.





     Có thể thấy, mặc dù thời bấy giờ khoa học kỹ thuật chưa được phát triển, tuy nhiên để mang lại độ bền cho công trình, cha ông ta đã biết ngâm thân cây dưới bùn để chống mối mọt, thay cột bêtông lõi thép bằng các thân gỗ lim, táu với độ bền hàng thế kỷ. Đồng thời, đã biết xây dựng các hang đá nhân tạo để thử độ lún của công trình. Với các chất liệu tự nhiên, đặc biệt là việc sử dụng tối đa chất liệu đá với nền nhà bằng đá, hai đầu cấu trúc bằng đá để giữ 9 vì kèo bằng gỗ vững chắc, vừa để chống lún tốt, vừa tạo cho không gian 3 chiều. 


 


     Cân đối, không bị chuyển dịch. Từ các chất như vôi, giấy bản, mật, tất cả đã tạo thành một chất kết dính vô cùng bền chắc, các khối đá được gắn đến nay vẫn còn khít nguyên mà không hề có dấu hiệu của sự xuống cấp.



     Công đoạn vận chuyển và lắp ghép công trình có thể coi là một kỳ tích, quả chuông nặng tới 2 tấn được kéo lên với độ cao 25m, các vì kèo có sức nặng tổng thể lên đến 25 tấn, vậy mà tất cả vẫn được kéo lên không hề có sự hỗ trợ của máy móc hay các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Tất cả những điều này có được là nhờ việc biết tập hợp sức mạnh của người dân, bởi sức mạnh ấy luôn có một đức tin, đức tin vào chúa.





Bài viết sưu tầm nhằm cung cấp cho cộng đồng Yume hiểu thêm về nhà Thờ Phát Diệm .(chantinh.comm@yahoo.com )


     Được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19, với thời gian, các phiến đá vẫn vững chắc nhưng các cột gỗ đã bắt đầu xuống cấp và phải thay thế nhiều. Dịp kỷ niệm 110 năm vừa qua, nhà thờ đã tiến hành đại tu với lượng gỗ nhập từ bên Lào về để thay thế cho 4 cột và 2 xà cân. Một vài phần trên mái đã được thay bằng chất liệu xi măng bởi khó có thể làm được chất keo dính như cha ông xưa. Tuy nhiên, đó chỉ là những thứ da vị còn phần chính yếu vẫn được giữ nguyên. Tất cả mọi thiết kế làm mới đều phải tuân thủ chặt chẽ theo bản cũ một cách tối đa. Việc làm mới đôi khi còn khó hơn trùng tu vì phải phụ thuộc vào nguyên bản. Việc trùng tu, làm mới lại một vài chi tiết sẽ giúp cho nhà thờ bền vững hơn, tồn tại lâu hơn; tuy nhiên về độ tinh xảo và cái hồn trong mỗi đường nét gần như không còn.





     Nhà thờ Phát Diệm, nơi tiêu biểu cho một cơ sở tôn giáo linh thiêng chứ không chỉ là một khu kiến trúc cổ đặc sắc đơn thuần. Người về nơi đây không chỉ hưởng làn gió mát, chiêm ngưỡng nét đẹp kiến trúc mà còn hưởng bầu không khí của sự an bình, của sự bảo vệ. Họ đến đây để gặp gỡ chúa, để gặp gỡ chủ nhà, lắng nghe lời dặn dò của chủ nhà. Để từ đó khi ra về trong tâm hồn như có được một niềm tin, như có được một sự bảo đảm để tiếp tục sống tốt, sống đẹp, để hoàn thành sứ mệnh cao cả, hoàn thành nhiệm vụ mà chúa đã ban tặng cho loài người.

 

 Vị trí: Nhà thờ Phát Diệm thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

     Đặc điểm: Là nhà thờ mang đậm kiến trúc phương Đông.

     Nhà thờ Phát Diệm cách Hà Nội 120km về phía nam, được xây dựng vào những năm 1875 - 1898. Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt. Nhà thờ được xây dựng trong suốt thời gian 24 năm liên tục, với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19 thì chỉ việc vận chuyển hàng nghìn tấn đá, có những phiến nặng 20 tấn, hàng trăm cây gỗ lim về tới Phát Diệm để xây nhà thờ cũng là một kỳ công. Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm.

     Ðây là một quần thể kiến trúc phương Ðông gồm có (từ hướng nam đi vào): Ao hồ, Phương Ðình, Nhà thờ lớn với bốn nhà thờ cạnh ở hai bên, ba hang đá nhân tạo, nhà thờ đá.

     Phương Ðình là khu vực đầu tiên trong quy hoạch kiến trúc của nhà thờ Phát Diệm. Ðây là một công trình kiến trúc cao 25m, rộng 17m, dài 24m gồm ba tầng được xây dựng bằng đá phiến, lớn nhất là tầng dưới cùng được xây dựng bằng đá xanh. Nghệ thuật xây dựng Phương Ðình rất đáng khâm phục, với kỹ nghệ thủ công những người thợ địa phương đã ghép những phiến đá nặng hàng nghìn cân, mức độ chính xác rất cao. Các vòm cửa bằng đá được lắp ghép đến trình độ tinh xảo. Giữa Phương Ðình đặt một sập làm bằng đá nguyên khối, phía ngoài và bên trong là những bức phù điêu được khắc chạm trên đá hình ảnh chúa Jêsu và các vị thánh rất đẹp với những đường nét thanh thoát. Tầng thứ hai của Phương Ðình treo một trống lớn. Tầng ba treo một quả chuông cao 1,4m, đường kính 1,1m, nặng gần 2000 kg, quả chuông lớn ở Phương Ðình được đúc vào năm 1890. Mái của Phương Ðình có năm vòm, bốn vòm ở bốn góc thấp hơn, vòm cao nhất là vòm ở giữa tầng ba. Mái của Phương Ðình ở nhà thờ Phát Diệm không cao vút kiểu ngọn tháp như những nhà thờ khác mà là mái cong thấp cổ kính như mái đình, mái chùa.

Nhà thờ lớn: Nhà thờ lớn là nhà thờ chính được xây dựng năm 1891, có năm lối vào vòm đá được chạm trổ. Nhà thờ lớn dài 74m, rộng 21m, cao 15m, có bốn mái. Trong nhà thờ có 6 hàng cột gỗ lim nguyên khối, hai hàng cột giữa cao tới 11m, chu vi 2,35m, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn.

     Gian thượng của thánh đường có một bàn thờ lớn làm bằng một phiến đá nguyên khối dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,8m, nặng khoảng 20 tấn. Mặt trước và hai bên được chạm trổ các loài hoa đặc trưng của bốn mùa làm cho bàn thờ như được phủ một chiếc khăn màu thạch sáng. Hai phía bên nhà thờ có bốn nhà thờ nhỏ được kiến trúc theo một phong cách riêng.

     Nhà thờ đá: nhà thờ đá còn được gọi là nhà thờ dâng kính trái tim Ðức Mẹ. Gọi là nhà thờ đá vì tất cả mọi thứ ở nhà thờ này đều được làm bằng đá, từ nền, tường, cột, chấn song cửa... Phía trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, đặc biệt là bức chạm tứ quý: tùng, mai, cúc, trúc, tượng trưng cho thời tiết và vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong một năm. Ðường nét khắc họa những con vật như sư tử, phượng sống động đến lạ thường.

Hang đá nhân tạo: ở phía bắc khu nhà thờ Phát Diệm có 3 hang đá được tạo bằng những khối đá lớn nhỏ khác nhau giữ nguyên dáng vẻ tự nhiên. Trong đó, hang Lộ Ðức là đẹp nhất

     Nhà thờ Phát Diệm, một công trình kiến trúc độc đáo có một không hai ở Việt Nam Các công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ nhưng hài hòa với cảnh vật thiên nhiên, mang đậm phong cách kiến trúc Á Đông.

 

==> Hình ảnh về Nhà thờ đá Phát Diệm

Thứ hai, 06/07/2009 - 09:23:am

 

     Nhà Thờ Phát Diệm (Nhà Thờ Đá), Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình .Là 1 quần thể kiến trúc Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo rất lớn, mô phỏng theo kiến trúc đình chùa Việt Nam, cách Hà Nội 121km và cách TP. Ninh Bình 26km về phía nam.


     Nhà Thờ chính được xây dựng năm 1891, dài 80m, cao 18m, rộng 24m, vật liệu xây dựng chủ yếu là đá, có 48 cột gỗ Lim (chu vi 2,4m/cột). Tiền đường Nhà Thờ đối diện 1 hồ nước rộng #4 ha. Ngoài ra, còn 4 Nhà Thờ Phụ bao quanh Nhà Thờ chính, cũng được xây dựng phần lớn bằng đá... Phía sau khu vực Nhà Thờ, có các công trình phụ như Hang Đá Đức Mẹ, Nhà Truyền Thống Giáo Phận Phát Diệm- nơi tưởng nhớ công lao khai phá và kiến thiết của Linh mục Peter Trần Lục ( Còn gọi là Cụ Sáu- Linh mục Chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865).


     Tổng diện tích quần thể Nhà Thờ Phát Diệm khoảng 22 ha, được xếp vào danh mục Danh Thắng của tỉnh Ninh Bình...

 

 

     Là một quần thể các nhà thờ Công giáo thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn (Ninh Bình), nhà thờ Phát Diệm từ lâu đã được đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất nước.

 

 

     Là 1 quần thể kiến trúc Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo rất lớn, mô phỏng theo kiến trúc đình chùa Việt Nam, cách Hà Nội 120 km và cách TP. Ninh Bình 26 km về phía nam.

 

 

     Nhà thờ được xây dựng với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19. Từ hướng Nam đi vào nhà thờ Phát Diệm gồm các phần: Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn, ba hang đá nhân tạo và nhà thờ đá.

 

 

     Nhà Thờ chính được xây dựng năm 1891, dài 80m, cao 18m, rộng 24m, vật liệu xây dựng chủ yếu là đá.

 

 

     Với kỹ nghệ thủ công, những người thợ địa phương đã ghép những phiến đá nặng hàng nghìn cân vào với nhau bằng một mức độ chính xác rất cao. Các vòm cửa bằng đá được lắp ghép đến trình độ tinh xảo.

 

 

Rêu phong cổ kính.

 

 

 

     Phía sau khu vực Nhà Thờ, có các công trình phụ như Hang Đá Đức Mẹ, Nhà Truyền Thống Giáo Phận Phát Diệm- nơi tưởng nhớ công lao khai phá và kiến thiết của Linh mục Peter Trần Lục ( Còn gọi là Cụ Sáu- Linh mục Chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865)

 

 

 

 

 Tổng diện tích quần thể Nhà Thờ Phát Diệm khoảng 22 ha, được xếp vào danh mục Danh Thắng của tỉnh Ninh Bình...

 

 

==> Nhà Thờ PHÚ CAM - HUẾ

Thứ sáu, 03/07/2009 - 10:11:am

    Nhà thờ Phủ Cam  

 

Đa số các nhà thờ Thiên chúa giáo ở vùng Huế lúc khởi thủy cách đây hơn 300 năm chỉ là những nhà nguyện đơn giản với sườn gỗ mái tranh. Khi các vua chúa Việt Nam hạ lệnh cấm đạo một cách gay gắt thì chúng bị triệt giải đi. Còn lúc nào họ nới lỏng hoặc bãi bỏ lệnh cấm thì giáo dân xây dựng lại để có chỗ mà nghe rao truyền đạo Chúa và để cầu nguyện. Sau đó, từ thời Pháp thuộc trở đi, khi hoàn cảnh lịch sử cho phép các nhà thờ được nâng cấp dần và ngày càng trở nên khang trang, bề thế.
 
Lần đầu tiên, vào năm 1682, Linh mục Langlois (1640 - 1770) cho xây dựng nhà nguyện Phủ Cam bằng tranh tre tại xóm Đá, ở sát bờ sông An Cựu. Nhưng, sau đó chỉ 2 năm, vì có được hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi, cho nên chính vị Linh mục này đã cho triệt giải nhà nguyện đơn sơ ấy và mua đất trên đồi Phước Quả để xây dựng một nhà thờ bằng đá kiên cố và to lớn hơn. Bấy giờ, nhà thờ quay mặt về hướng tây (tức là phía ga Huế ngày nay). Dù đó là một công trình kiến trúc được mô tả là rất chắc chắn và "chưa từng có ở xứ này, được nhà vua (tức là chúa Nguyễn Phúc Tần) và quan lại thán phục", nhưng đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), vào năm 1698, ngôi nhà thờ ấy đã bị triệt giải hoàn toàn.
 
Sau đó đúng 2 thế kỷ vào năm 1898, Giám mục Allys (1852 - 1936) cho xây dựng mới nhà thờ Phủ Cam bằng gạch lợp ngói khá đồ sộ tại vị trí cũ. Nhưng lần này thì nhà thờ quay mặt về hướng bắc (phía Kỳ đài của Kinh thành) và do chính Giám mục Allys vẽ thiết kế rồi giám sát thi công. Công việc xây dựng được hoàn thành vào năm 1902. Nhà thờ mang nét kiến trúc "Gothique". Hai bên mặt tiền có hai tháp chuông thân hình trụ vuông, đỉnh tròn, cao vừa phải. Ở tầng 2 của hai tháp, có một hành lang nối liền chúng lại với nhau. "Nét chủ đạo kiến trúc lần này là những vòm duyên dáng đổ xuống trên những trụ có những nét hoa văn cây lá, những hình thiên thần. Đặc biệt nhà thờ có một vườn hoa được chắn đất đào xuống sâu và phẳng với hai la thành chạy lượn lên cao dần, mềm mại duyên dáng với 16 bậc cấp bằng gạch ở phía trước tiền đường" (Trích "Lược sử các giáo xứ" do Tổng Giáo phận Huế biên soạn, Huế, 2001, tập 1, tr.50).
 
Dù vậy, nhà thờ ấy đã được thay thế bằng một nhà thờ mới khởi sự xây dựng cách đây hơn 40 năm, có lẽ vì bấy giờ nhà thờ cũ đã hết niên hạn sử dụng và đã trở nên chật hẹp so với số lượng giáo dân trong họ đạo Phủ Cam ngày càng tăng cao.
 
Vào đầu năm 1963, dưới thời Ngô Đình Diệm, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục (1897 - 1984) cho triệt giải nhà thờ cũ để làm mới một ngôi nhà thờ rộng lớn hơn. Đây là nhà thờ thứ 10 ở Phủ Cam tính từ nhà nguyện đầu tiên do Linh mục Langlois xây dựng vào năm1682 tại xóm Đá bên bờ sông An Cựu. Nhà thờ lần này do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu. Mặt bằng xây dựng nhà thờ mang dạng một thánh giá: đầu thánh giá hướng về phía nam, đuôi thánh giá hướng về phía bắc, và ở gần đầu hơn, hai bên vươn ra hai cánh thánh giá. Nhà thờ được kết cấu theo kỹ thuật xây dựng hiện đại, nhưng trang trí thì phần lớn vẫn theo nghệ thuật cổ điển Tây phương. Các trụ đỡ mái được đúc sát vào hai chân tường trong của nhà thờ, uốn dần ra phía trước khi vươn cao lên, rồi nối lại với nhau từng cặp bằng một đường cong trên đỉnh, mềm mại như những bàn tay đang chắp lại để cầu nguyện. Đặc biệt là ở phần Cung thánh, từ mỗi một trong 4 góc, đều có 3 trụ đỡ vươn dần ra, như những bàn tay muốn nắm lấy nhau, tạo thành một không gian đủ rộng để ôm kín bàn thờ.
 
Lòng nhà thờ rộng thênh thang với những dãy ghế dài có thể chứa được khoảng 2500 người đến dự lễ. Hai bên lòng nhà thờ trang trí hai dãy tranh vẽ đóng trong từng khung gỗ thể hiện về đời Chúa Giê - su, và bên trên là hai dãy cửa kính trong và màu xanh lá chuối non để cung cấp đủ ánh sáng cho nội thất, kể cả vào mùa mưa. Nhà Tạm được xây sát vào phần lõm phía sau của lòng nhà thờ và nằm trên một bệ cao đặt ở chính giữa, vừa trang nghiêm, vừa dễ thấy. Thánh giá được làm bằng thân một cây thông già ở đồi Thiên An, trên đó có tượng Chúa Cứu Thế đang chịu đóng đinh. Ở phần trên của Nhà Tạm có một hình vẽ bán thân Chúa Giê - su dang hai tay ngửa lên trời như đang ở trong tư thế rao giảng, viền quanh là dòng chữ "Chúc tụng Thiên chúa đến muôn đời".
 
Cũng trong nội thất, ở hai bên còn có hai cánh (của hình cây thánh giá). Không gian bên cánh trái (từ trong nhìn ra) là nơi thiết lập bàn thờ để thờ thánh tử đạo Tống Viết Bường (bị giết năm 1833), người gốc Phủ Cam. Và không gian bên cánh phải (đối diện) là phần mộ của cố Giám mục Nguyễn Kim Điền (1921 - 1988), người có nhiều công nhất trong việc xây dựng nhà thờ này.
 
Cần biết thêm rằng vào năm 1963, khi chỉ mới xây xong nền móng và một phần tường vách thì chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cho nên, việc thi công chững lại. Sau đó một thời gian ngắn, việc xây dựng được tiếp tục một cách khó khăn và chậm chạp qua 3 giai đoạn 1963 - 1967, 1972 - 1995 và 1999 - 2000 mới hoàn thành.
 
Dù sao, nhà thờ Phủ Cam hiện nay cũng là một công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị cao về lịch sử và nghệ thuật ở vùng Huế.
 

==> 10 nhà Thờ tráng lệ nhất Thế giới

Thứ năm, 02/07/2009 - 10:29:am

 

     Với sự xuất hiện của dòng tu mới và lượng tín đồ hành hương tăng lên hằng năm, các Giáo hội Cơ Đốc thời xưa đã cho xây dựng nhiều tu viện, nhà thờ với quần thể kiến trúc ngày càng lớn.

 

     Dưới đây là 10 nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã hoành tráng nhất thế giới.

 

 

"Đền thờ quốc gia Đức Mẹ về trời" tọa lạc tại thành phố Baltimore, Mỹ. Xây dựng từ năm 1806, thánh đường Baltimore được thiết kế theo phong cách tân cổ điển, kết hợp giữa kiến trúc nhà thờ kiểu Mỹ thời xưa nhưng vẫn giữ những thiết kế truyền thống của các giáo đường lâu đời ở châu Âu.

 

 

Thánh đường “Our Lady of the Pillar” tại Zaragoza, Tây Ban Nha được xây dựng trên bờ sông Ebro khoảng thế kỷ 1-2 sau Công nguyên. Kiến trúc nguyên thủy của nó mang phong cách nghệ thuật Barốc, còn phần lớn tòa nhà hiện tại đã được xây dựng lại từ năm 1681 đến 1872.

 

 

Nhà thờ Đức Bà Paris tại thành phố Paris, Pháp, là thánh đường thuộc quyền cai quản của Đức Giám mục Paris. Xây dựng hoàn tất vào khoảng năm 1345, nhà thờ được xem là một trong những ví dụ tiêu biểu nhất cho phong cách kiến trúc Gothic Pháp và cũng là một trong những công trình đầu tiên sử dụng tường chắn kiểu vòm.

 

 

Nhà thờ St Patrick tại Melbourne, Australia, nổi danh thế giới là tòa nhà tiên phong xây dựng theo phong cách kiến trúc Gothic thời Phục hưng. Được khởi công xây dựng vào năm 1858 nhưng phải đến năm 1939, thánh đường cao nhất xứ sở kangaroo này mới được hoàn tất do trì hoãn nhiều lần về lý do tài chính.

 

 

St Mark là nhà thờ nổi tiếng nhất tại thành phố Venice, Italy, và cũng là một trong những ví dụ điển hình nhất của phong cách kiến trúc thời đế chế Byzantine.

 

 

Thánh đường Đức Mẹ Dolours tọa lạc tại thành phố Thrissur miền nam Ấn Độ là một trong những nhà thờ cao lớn nhất châu Á. Thánh đường được xây dựng theo phong cách Indo-Gothic với ba tháp lớn, trong đó tòa tháp cao nhất lên đến 79 m.

 

 

Nhà thờ Đức bà Bảo vệ được xây theo phong cách Byzantine mới, tọa lạc ở địa điểm cao nhất của thành phố Marseille, Pháp.

 

 

Thánh đường Đức Mẹ Licheń nằm trong khu làng Licheń Stary gần thành phố Konin, Phần Lan. Với gian giữa giáo đường cao 98 m, dài 120 m, rộng 77 m và một tòa tháp cao 141,5 m, đây là nhà thờ lớn nhất Phần Lan và cũng nằm trong số những nhà thờ lớn nhất thế giới.

 

 

Thánh đường Las Lajas theo phong cách kiến trúc Gothic thời Phục hưng từ năm 1916-1949 được xây bên trong hẻm núi của con sông Guaitara thuộc thành phố tự trị Ipiales, Colombia.

 

 

Nhà thờ St Peter tại Vatican, Rome, Italy, được xem là công trình mang tính tôn giáo lớn nhất thế giới với sức chứa 60.000 người. Ngôi thánh đường hiện tại được xây dựng lại từ một thánh đường Constantin cổ trong thế kỷ 16 với thiết kế của những nghệ sĩ bậc thầy thời Phục hưng, nổi bật nhất trong số đó là nhà điêu khắc kiêm họa sĩ Michelangelo.

 

 

Thánh đường thứ 11 chưa hoàn tất mang tên Sagrada Família. Đây là một đền thờ Cơ đốc giáo La Mã do tư nhân xây dựng tại thành phố Barcelona, Tây Ban Nha, vào năm 1882 và dự tính còn kéo dài ít nhất đến năm 2026 mới hoàn thành. Được xem là một tuyệt tác kiến trúc của kiến trúc sư trứ danh người Catalan, Antoni Gaudí, Sagrada Família đã trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch hàng đầu của Barcelona trong nhiều năm qua.

 

     Nhà thờ Thánh Đa Minh là một trong những công trình kiến trúc tồn tại đã khá lâu đời, người dân nơi đây thường gọi nhà thờ bằng một tên khác là nhà thờ Ba Chuông bởi trên đỉnh của nhà thờ này gắn ba quả chuông. Đầu thế kỷ 21, công trình kiến trúc này được xây dựng lại một cách hoành tráng.


      Được kết hợp độc đáo giữa lối kiến trúc với những đường nét ngang thẳng, gãy gọn của phương Tây và sự thanh thoát của kiến trúc phương Đông, toàn thể nhà thờ Ba Chuông là những đường cong nhẹ nhàng, uyển chuyển vươn lên giữa bầu trời xanh ngắt. Cổng tam quan cao vút, điểm trên các góc mái là hình những chú rồng uốn cong tạo nên một quần thể điêu khắc lồng lộng giữa bầu trời trong xanh, phả vào hình khối kiến trúc một tinh thần Việt.

      Tọa lạc trên đường Lê Văn Sỹ, quận Phú Nhuận, Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông được xây dựng lại từ nền cũ. Sau 22 tháng xây dựng miệt mài, nhà thờ Ba Chuông được mang một diện mạo mới với nét kiến trúc độc đáo có một không hai ở thành phố Sài Gòn. Từ ngoài nhìn vào, toàn bộ quần thể kiến trúc của nhà thờ Ba Chuông mang một màu xanh hoành tráng được gắn kết bởi những tảng đá xanh láng bóng. Lòng thánh đường được mở rộng ra bốn phía, trung tâm thánh đường là hai tầng mái cách điệu với độ cao 30m tạo nên hai tầng không gian mở, vòm mái cao vút tạo độ thông thoáng. Giữa thánh đường là một gian cung thánh hình tròn rộng lớn với bàn thờ bằng gỗ quý trên mặt cẩn đá cẩm thạch. Những bức tranh kính màu với nhiều màu sắc gắn xung quanh thánh đường tạo độ sáng tối huyền ảo. Thánh đường Đa Minh - Ba Chuông có kiểu kiến trúc hình vuông tượng trưng cho đất; khung mái hình tròn tượng trưng cho trời; các góc mái có rồng bay diễn tả ý muốn vươn cao hơn giữa trời đất. Kiến trúc và mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt ba bức tranh gốm hoành tráng đặt giữa lòng thánh đường đã được chọn như một ý tưởng chủ đạo của thánh đường.

      Ngay cửa ngõ Sài Gòn có thể nhìn thấy một quần thể kiến trúc với sắc màu men lam làm chủ lực và cấu trúc trang trí mỹ thuật dân tộc qua hình khối, kiểu dáng, đường nét, họa tiết, hoa văn, sắc màu, chất liệu gốm sứ, cây cảnh, non bộ... Toàn bộ công trình được xây cất bằng ximăng cốt sắt, gắn đá quý. Chuông và tháp chuông mang một ý nghĩa quan trọng trong kiến trúc tôn giáo, vì thế ba quả chuông tại nhà thờ Ba Chuông luôn giữ một vị thế trang trọng.


      Thánh đường Đa Minh trên nền tảng kiến trúc, mỹ thuật Việt Nam kết hợp với những đường nét hiện đại thực sự là một công trình nghệ thuật độc đáo giữa lòng thành phố Sài Gòn .

 

 

 

 

>> - Bí mật nhà thờ Đức Bà .

Thứ ba, 02/06/2009 - 09:09:am

     Nhà thờ Đức Bà (còn gọi là nhà thờ lớn, Vương cung thánh đường, nhà thờ chính tòa) TP.HCM đồ sộ, đẹp, đứng sừng sững ở trung tâm thành phố luôn thu hút nhiều người lui tới.

 

 

     Thế nhưng qua 124 năm tồn tại, mấy ai đã biết gì về nhà thờ này. Sau khi được phép của linh mục chánh sở Huỳnh Công Minh, PV báo TS đã được linh mục phụ tá Vương Sĩ Tuấn hướng dẫn vào nhà thờ...


Trăm năm, gạch ngói không phai màu

 

     Nhìn từ bên ngoài, toàn bộ nhà thờ từ mái đến tường là một màu đỏ gạch nung. Đặc điểm của loại gạch và ngói xây dựng nhà thờ là giữ nguyên màu từ ngày xây dựng đến nay và không hề đóng rêu mốc.

 

     Theo quan sát của chúng tôi, một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (nơi sản xuất loại ngói này?), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang - Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, thời gian mà theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, có nhiều cửa kính của nhà thờ bị vỡ.



      Bên trong nhà thờ khá rộng, có sức chứa 1.200 người, với hai hàng cột chính hình chữ nhật mỗi bên sáu chiếc (tổng cộng 12 chiếc) tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang có khá nhiều khoang có những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) với các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo.

 

     Trên tường được trang trí nổi bật là 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Rất tiếc trong số cửa kính này hiện chỉ còn hai cửa là nguyên vẹn như xưa...


Đàn cổ nhất nhì trong nước (?)

 

     Đứng từ bàn thờ chính của nhà thờ nhìn về phần trên cao phía cửa chính, chúng ta sẽ thấy một bức tường gỗ lớn. Đó là nơi được gọi là “gác đàn” và bức tường gỗ ấy chính là cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất nước hiện nay, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn.

 

     Ước lượng phần thân đàn cao 3m, ngang chừng 4m, dài khoảng 2m, chứa những ống hơi bằng nhôm đường kính khoảng một tấc. Phần điều khiển đàn nằm riêng nối với thân đàn bằng những trục, có những phím đàn như đàn organ bình thường hiện nay dùng tay gõ và những phím to đặt dưới sàn nhà (dài chừng 3m, ngang khoảng 1m) để người điều khiển đàn đạp lên khi dùng nốt trầm.

 

     Bên trong đàn được thiết kế tương tự đàn piano nhưng phức tạp hơn nhiều. Đàn còn có những thanh gõ lớn để đập vào phần dưới các ống hơi phát ra âm thanh, tương tự kiểu đánh đàn k’lông pút của Tây nguyên. Theo ông Nam Hải, người phụ trách phần nhạc của nhà thờ, để đánh được cây đàn này người đánh phải học riêng vì không có trường lớp nào dạy.

 

     Điều đáng tiếc là cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do thiếu bảo quản (bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay). Hiện nhà thờ còn có một cây đàn tương tự nhưng nhỏ hơn rất nhiều, trị giá khoảng 70.000 USD, còn khá mới, do một cựu lãnh sự Pháp tại TP.HCM “gửi”.

 

Bi mat nha tho Duc Ba
Máy đồng hồ với đồng hồ nhỏ theo dõi

Chiếc đồng hồ khổng lồ

 

 

     Hai bên hông gác đàn là một khoảng trống, đó là gác chuông. Từ khoảng trống này nhìn thẳng lên mái tháp chuông - hơn 26m, cao hun hút và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng bốn tấc bề ngang.

 

     Khoảng giữa cầu thang nhỏ ấy ở độ cao chừng 15m, chúng tôi thấy một khung cửa tò vò nhỏ bằng lưới. Chui vào cánh cửa ấy với khá nhiều bụi bặm và phân dơi, phần chủ yếu của chiếc đồng hồ nhà thờ Đức Bà hiện ra. Bộ máy đồng hồ to như một chiếc tủ chứa quần áo loại lớn, cao khoảng 2,5m, dài khoảng 3m và ngang độ hơn 1m.

 

     Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Theo anh Phan Vĩnh Du, người chịu trách nhiệm đánh chuông và bảo trì đồng hồ, mỗi tuần lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe.

 

Bi mat nha tho Duc Ba
Những quả chuông đúc từ năm 1879

Gần 30 tấn... chuông

 

 

     Trên gác chuông, cao 36,6m kể từ mặt đất, rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút rợn người. Gác chuông bên phải (phía bên Trường Hòa Bình) có hai chuông mang tên nốt nhạc là la và do. Gác chuông bên trái có bốn quả chuông sol, si, mi và re.

 

     Ba quả chuông to nhất là sol nặng 8.745kg, si nặng 3.150kg và quả re nặng 2.194kg. Tổng cộng sức nặng của các quả chuông, theo linh mục Vương Sĩ Tuấn, là gần 30 tấn, tất cả đều được đúc ở Pháp vào năm 1879. Đặc điểm của chuông nhà thờ là có âm sắc riêng không thể lẫn vào đâu, vì vậy theo anh Nam Hải, không có bậc fa.

 

     Khi xây nhà thờ, gác chuông không có mái. Năm 1885, kiến trúc sư Gardes đã thêm mái chóp vào để che gác chuông với tổng chiều cao tính từ đất là 57m. Những chiếc chuông của nhà thờ được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Song riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật rờle điện. Khi đổ cùng lúc sáu chuông, tiếng chuông vang xa trong phạm vi chừng 10km.



      Từ lâu khá nhiều khách tham quan trong và ngoài nước đã vào đây. Linh mục Vương Sĩ Tuấn cho biết năm 2005 là năm kỷ niệm 125 năm thành lập nhà thờ và cũng để ủng hộ ngành du lịch thành phố, nhà thờ sẽ thành lập một đội hướng dẫn viên tình nguyện biết nhiều thứ tiếng để hướng dẫn khách tham quan. Có thể việc này sẽ giúp nhiều người trong và ngoài nước hiểu biết thêm về nhà thờ Đức Bà và chúng ta có thêm một điểm tham quan thú vị nằm ngay trung tâm thành phố.


 

 

     - Dài 91m, rộng 35,5m và vòm mái chính cao 21m, hai tháp chuông cao 57m, tường nhà thờ Đức Bà được xây bằng gạch và cột bằng đá tảng theo đồ án của kiến trúc sư J.Bourard, một chuyên gia về các công trình kiến trúc tôn giáo.

 

     Khởi công từ 7-10-1877 đến 11-4-1880 thì hoàn thành, nhà thờ còn là một nơi yên nghỉ của nhiều giám mục và linh mục của giáo phận, trong đó có giám mục Isidore Colombert - người đặt viên đá đầu tiên và làm lễ khánh thành nhà thờ, mất năm 1894.

      - Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy). Toàn bộ đèn - có mặt ngay từ khi xây dựng xong - đều dùng điện.

 

 

 
    Blog Trên Yume
    • Blog Nổi Bật
    • Blog Yêu Thích
    • Blog Mới