Blog
Các bài viết thuộc thể loại "Giải trí khác"

Tổng số bài viết: 19

Sắp xếp theo: Hiển thị:

- Khoảng lặng...mùa Thu.

Thứ ba, 24/11/2009 - 05:31:pm

     Một mùa thu nữa đã ra đi...nhẹ nhàng thoắt đến thoắt đi.Nó lướt qua cuộc đời mọi người nhẹ như một cơn gió thoảng.Mặc cho những trăn trở ,phiền muộn ,day dứt những hoài vọng ,tiếc nuối của ai đó còn ở lại.

 


     Rồi một mùa đông lại đến,một mùa đông xám ngắt lạnh lẽo .không gian xám xịt ,u uẩn như cô đọng những nỗi buồn,và hồn ai đó bỗng chợt thấy bâng khuâng chút gì đó trong cuộc đời .


     Đêm nay thiếu hẳn vầng trăng ,bầu trời mang đầy nét huyền bí của vũ trụ mà chúng ta không thể chạm đến.Tôi có thói quen,thích ngồi một mình trong bóng tối.Tôi không biết tại sao ?nhưng hình như chỉ có trong cõi tĩnh lặng tôi mới chính là tôi.Trong cõi tĩnh lặng,tôi lại miên man suy nghĩ về cuộc đời,về kiếp nhân sinh của con người. Chỉ trong khoảng lặng đó tâm hồn nhẹ nhàng thanh thoát hơn.Trong cuộc sống quay cuồng ,hối hả mọi cảm xúc như ngưng đọng.Con người bị xoáy vào giòng cuốn của công việc,không có thời gian để có thể chia sẻ một nỗi buồn ,một nụ cười ,gặp nhau thật vội vàng.Thời gian không tồn tại ,cảm xúc không tồn tại .

 


     Giờ đây đêm thật yên tĩnh.Tất cả mọi hoạt động đã ngừng lại khi đêm về.Không gian thật yên tĩnh,có tiếng thạch sùng chắt lưỡi nghe buồn não nuột.Tất cả hồi ức lai trở về ,tôi nhớ về tuổi thơ thật hạnh phúc trong tình thương của Cha,Mẹ , của anh chị em,nhớ mãi những âu yếm ,yêu thương ,che chở cho con.Tôi muốn ngàn lần cám ơn Cha Mẹ đã cho con cuộc sống này,dù cuộc sống có đau khổ hay hạnh phúc.Tôi cũng xin cám ơn cuộc đời dù có đắng cay ,chua chát thất bại vì có trải qua tất thăng trầm trong cuộc đời tôi đã trải nghiệm và hiểu được hết ý nghĩa của cuộc sống.Để sống cho tốt hơn khi có đầy đủ phước duyên được làm người,có đầy đủ cảm xúc biết yêu thương biết giận hờn...


     Vẫn biết trong cuộc đời khổ đau nhiều hơn hạnh phúc,nước mắt nhiều hơn tiếng cười nhưng cuộc đời vẫn tuyệt vời vì trong men đắng có lẫn vị ngọt của hạnh phúc.Nếu ai đã từng uống trà đều biết trong vị đắng của trà còn có chút vị ngọt trên bờ môi.Cuộc đời không cho ai tất cả và cũng không lấy đi tất cả...
Tôi đã bỏ tất cả những trăn trở ,phiền muộn tiếc nuối lại sau lưng.Tất cả đã là quá khứ.

 

http://duytue.com/images/minhhoa/ChaMe.jpg

 

     Nếu ngày trước chỉ vì thất bại trong công việc cuộc sống không được như ý ,tôi đau khổ buồn bực và oán trách cuộc đời ,chán ghét cả bản thân mình thì bây giờ tôi như vừa tỉnh lại sau một cơn mê dài.Có một cơ duyên đến với tôi ,khi tôi bắt đầu xem sách tụng kinh những lời dạy của đức Phật .Tôi đã ngộ ra được lẽ tự nhiên của cuộc sống.Giáo lý của Phật thật sự là niềm tin ,là điểm tựa cho tôi đứng lên.Tôi đã thấu hiểu tính ảo hóa và vô thường của cuộc đời..không còn chấp ngã ,chấp thủ,không mê hoặc, lầm lạc đi tìm sự " Thật " trong cái ảo.

     Tôi đã tìm đươc sự bình yên nơi hiện tại.Chính thiền sư Thích nhất Hạnh đã nói " Hãy về an trú trong hiện tại " tìm đến chư Phật tánh của chính mình.đức Phật của chúng ta đã từng dạy :

 

"Quá khứ không truy tìm ,tương lai không ước hẹn,chỉ sống với hiên tại ".

 

http://www.vantholacviet.org/FilesUpload/Image/Van%20Khanh/ChaMe.jpg

 

 

- Nguồn gốc của sự Sống và cái Chết.

Thứ ba, 10/11/2009 - 02:44:pm

       Bóng hồng vừa gác núi. Chim chóc từng đàn lũ lượt bay về tổ, kêu la rộn rịp. Trên con đường mòn khúc khuỷu, các bác tiều vội vã cất gánh củi lên vai trở về làng mạc. Tiếng náo động vắng dần. Quang cảnh rừng rú mỗi lúc càng tĩnh mịch.

       Thỉnh thoảng một vài tiếng chuông chùa ngân nga từ xa vọng lại, dường như để thúc hối những người còn chậm bước chưa ra khỏi cảnh hoang liêu ghê rợn của núi rừng. Một vài tiếng hú kêu vang và sâu tận trong hốc núi càng làm cho những kẻ lạc loài khiếp đảm. Các loài thú dữ đã bắt đầu cuộc săn mồi thường bữa, chốc chốc điểm lên những tiếng rống ghê người của chúa tể sơn lâm.

      Từ trong thảo am bê mé núi, một vị Thiền-sư lưng mang dây bố, tay chống gậy tre, lần bước trên con đường mòn, tiến dần về phía xóm nhà cạnh mé rừng. Trời vừa sắp tối, vị Thiền-sư đến nơi và đi ngay vào cổng, tìm lại nhà hai vợ chồng vị cư-sĩ đã thọ giáo với ngài . Sau những lời chào hỏi, hai vợ chồng vị cư-sĩ trải chiếu hoa mời ngài an tọạ Trà nước xong, Thiền-sư liền bảo: Từ ngày hai ông bà đã thọ giáo theo Phật đến giờ, tôi thường tới lui để thúc nhắc. Độ này việc tu niệm của ông bà được khá lắm, thật tôi rất lấy làm vui mừng. Song sự đời có hợp phải có tan, hôm nay tôi đến đây để thăm và cũng để tỏ lòng từ giã hai ông bà. Ngày mai này tôi sẽ lên đường đặng đi giáo hóa một nơi khác. Có lẽ cách nhau lâu, vì vậy tôi không dám hẹn ngày tái ngộ. Trước khi lên đường, tôi xin dặn lại ít lời rất thiết, có thể là châm ngôn tu tập hằng ngàỵ Hai ông bà phải cố gắng niệm Phật đừng để lãng quên, nếu chẳng may có gặp việc gì xảy ra chênh mếch trong gia đình, ngoài xã hội, nên kiên nhẫn bỏ qua, tự an ủi lấy lòng. Giả như một trong hai người lâm bịnh nặng sắp đến giờ hấp hối, người mạnh cần nhất phải cho tĩnh tâm, sửa sang Phật tượng, hộ niệm cho nhau đến phút cuối cùng; đừng nên than khóc, van kêu, làm cho người chết phải bối rối, loạn niệm, khó được vãng sanh. Đây là một rối, loạn niệm, khó được vãng sanh. Đây là một việc khó, mà nhiều người tu hành đã vấp phải.

      Nên tôi xin căn dặn hai ông bà hãy ghi nhớ. Được vậy, dù tôi ở cách xa, vẫn yên hóa đạo.

      Dặn dò, chỉ bảo đâu đó xong xuôi, rạng ngày vị Thiền Sư lên đường...

      Ngày tháng qua mau, phút chốc đã được hai thu, nhờ y theo lời dạy của vị Thiền Sư mà thời gian qua, hai vợ chồng vị cư-sĩ ăn ở với nhau rất thuận hòa, hằng ngày làm phước, bố-thí tụng kinh, niệm Phật chuyên cần, lối xóm nhiều người cảm mến.

      Một hôm người chồng bị chứng thương hàn đau nặng. Người vợ chạy thuốc tìm thầy đã hết hơi mà bịnh đâu vẫn còn nguyên đấỵ Cuối cùng, có một vị danh y đại tài đã được mời đến do công lao của người anh họ chẳng nại xa xôi rước về. Sau khi bắt mạch xong, vị danh y bảo: Bệnh này không qua khỏi ngày nay, vì mạch đã hết. Vậy bà đừng nên chạy chữa làm gì nữa cho tốn công hao của, hãy lo liệu những vật dưỡng già mà thôi.

      Người vợ lúc bấy giờ đã tuyệt vọng, tâm thần bà rối loạn, quên hẳn lời dặn bảo của vị Thiền Sư; người chồng cứ nằm mê man mãi .Trong tình cảnh này, vì thương chồng, vì tủi phận, người vợ chỉ có nước gục mặt bên chồng khóc kể liên miên. Mãi đến khi người chồng mở đôi mắt thất thần nhìn vợ lần cuối cùng, mà người vợ còn ghé mặt sát mặt chồng nức nở van kêu: Mình ơi! Mình nỡ nào chết đi để một mình tôi ở lại sống cô độc lẻ loi; hồi nào khổ sở có nhau, vui buồn cùng chịu, ngày nay mình bỏ tôi mình đi một mình ! Mình ơi !...

      Tội nghiệp người chồng vì nghe lời lẽ quá bi ai của vợ, cảm tình nhân ái bất giác nổi lên, nhìn vợ mà hai hàng lệ thắm tuôn ra, nghẹn thở... rồi trút linh hồn.

       Thần thức ông xuất ra nơi mắt. Người vợ vì gục mặt vào mặt chồng mà khóc, nên thần thức chui ngay vào lỗ mũi vợ, hóa thành một con sâụ

       Chồng mất rồi, vợ lo tròn bổn phận, chôn cất xong xuôi, đám ma cũng khá lớn, những ơn nghĩa lối xóm cũng lo tròn.

       Đến khi bà con ai về nhà nấy, bấy giờ bốn bề lặng ngắt, người vợ vì thương chồng bạc phận, xét nỗi cô đơn hiu quạnh, lại thêm lỗ mũi mỗi ngày một lớn và đau nhức vô cùng. Nàng cứ ngày đêm kêu gào than khóc, làm cho những kẻ ở gần, ai cũng phải động lòng thương xót kẻ xấu duyên, bạc phận.

       Một hôm, vị Thiền Sư trở lại và ghé thăm. Nàng vừa thấy Ngài đã hối hả chạy ra khóc than, kể lể...

       Vị Thiền Sư ôn tồn bảo: Bà hãy nín, sống chết là lẽ thường, hễ có sanh là có tử. Người tu hành khi bỏ được thân khổ này như quẳng được cái gánh nặng, bà nên mừng giùm chớ sao lại khóc? Bà còn than khóc thế là bà chưa hiểu đạo Xinh khuyên bà hãy nghe tôi, có thương nhớ nên để lòng, lo tu hành cho khuây lãng, nếu còn nặng lòng ái ân thì khiếp sau lại gặp nhau nữa, vay trả, trả vay thành một chuỗi oan gia vô cùng tận.

       Sau khi nghe vị Thiề Sư khuyên bảo, như giải được sự đau buồn, nàng liền sửa lại mái tóc, rồi tình cờ khịt mũi mạnh văng ra một con sâu khá lớn.

       Thiền sư cả cười bảo: Ở đời ít ai có nghĩa hơn bà, ai đời thương chồng mà khóc đến có sâu trong lỗ mũi.

      Nàng thẹn quá, toan lấy chân dậm chết con sâụ Vị Thiền Sư vội vàng khoát tay bảo: Đừng bà đừng nên làm thế, vì con sâu ấy là chồng bà vậyỀ. Nàng lạ lùng hỏi:

      Bạch thầy : Chồng tôi suốt đời niệm Phật làm phước, tại sao chết lại sanh vào loài sâu bọ như thế? Thiền Sư bảo: Bà đã quên lời tôi dặn, khi chồng bà chết bà không lo tụng kinh niệm Phật và khuyên bảo chồng bà khởi chánh niệm, bà lại còn đem tình ân ái kể khóc than, nên chồng bà khi sắp mất, bị lòng thương vợ, nặng tình ân ái mà lãng quên chánh niệm. Vì vậy nên thần thức luyến ái không thể vượt lên cao, mà phải chui vào mũi bà thành sâu thành bọ. Than ôi ! Uổng một kẻ tu hành, đã mong thoát kiếp luân hồi lại còn bị ái ân cột chặt. Thật có khác nào con cò muốn cất cánh bay cao để thoát ngoài dò, bẫy; nhưng khốn nỗi nó còn bị sợi dây vô tình cột chặt vào chân. Thế có tội nghiệp không?

      Thiền Sư lại đến gần con sâu khẽ bảo: Người trước cũng nghe lời ta chăm chỉ tu hành lẽ ra thời đã được công đức lành mà sanh thiên hay vãng sanh Cực-lạc, song vì tình ân ái của vộ chồng người có còn sâu thẳm ngàn trùng, thành ra khi trút hơi cuối cùng mà còng gây nghiệp chướng nặng nề phải thành loài sâu bọ, thật đáng thương thay ?.

       Con sâu năm im từ nãy giờ, dường như nó cũng tự biết hổ thẹn ăn năn. Thiền Sư chú nguyện cho và nhớ công đức lành đã tạo từ trước, nên con sâu quằn quại một lúc rồi chết, thần thức lại sanh vào cõi đời.Người vợ đã tự hối và phát nguyện tu hành, niệm Phật, trì chí không thối lui, kết quả bà được vãng sanh.

       Người ta cũng không phải chỉ có một đời sống ngắn ngủi mở đầu trên cái nôi và chấm hết trên cái mồ. Lọt lòng và nhắm mắt chỉ là bình minh và đêm tối của một thời gian lặng lẽ trôi, không bao giờ tạm ngừng, không có đầu, không có đuôi.
 

 

 

- Phật ngọc lung linh trong đêm hoa đăng .

Thứ tư, 21/10/2009 - 11:27:am

 

 


Vào năm 2000, tại Canada, người ta đã tìm thấy một khối ngọc thạch lớn chưa từng thấy từ trước cho đến nay. Khối ngọc nặng khoảng 18 tấn, hoàn toàn không tì vết, được gọi tên là “ Polar Pride ”, có nghĩa là "niềm Kiêu Hãnh của Bắc Cực". Các nhà nghiên cứu cho biết, đây là loại ngọc quý, có màu sáng bóng, cứng chắc hơn bất cứ loại ngọc thạch Nephrite nào khác, nên thường được dùng làm nữ trang. Pho tượng ngọc, cao 3,5 m kể cả pháp tòa và đài sen nặng 5 tấn.

 

 

Tại Australia có chùa của người Việt, Trung Quốc và một số nước khác nhưng chùa Pháp Hoa của người Việt ở thành phố Adelaide đã được lựa chọn. Hàng nghìn ngọn nến đã được chuẩn bị để đón tượng.

 


Buổi lễ được bắt đầu từ cuối buổi chiều, sử dụng song ngữ Anh Việt. Phật tử và những người dân thành kính cầu nguyện đến khi trời tối 17/10.

 


Khi bóng tối bắt đầu buông, nến được thắp lên sáng ở sân chùa.

 

 

Mọi người đứng phía ngoài sân và tiếp tục cầu nguyện.

 

 

Mặc dù trời khuya và lạnh nhưng các phật tử vẫn nán lại rất đông.

 


Hàng nghìn ngọn nến sáng lung linh. Sắp tới, tượng Phật ngọc sẽ được đưa tới các thành phố khác của Australia là Perth, Sydney, Melbourn rồi tới Mỹ.

 

 

 

 

 

          Khối ngọc bích từ Myanmar lớn nhất thế giới ( nặng 35 tấn ) đã về đến Việt Nam. Chủ nhân của viên ngọc này cho biết sẽ dùng nó để tạc pho tượng Đức Phật Thích Ca Mầu Ni lớn nhất thế giới tại Việt Nam.

 

 
Việt Nam đang sở hữu khối ngọc bích được coi là lớn nhất thế giới
 
     Sáng 18/10, tại nhà máy chế tác của Công ty Đá quý nữ trang Thần Châu Ngọc Việt ở Hải Dương, Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo tỉnh Hải Dương và chủ nhân của khối ngọc bích cùng nhiều quan khách đã mở niêm phong khối ngọc bích ( Jade ) lớn nhất thế giới vừa được chuyển từ Myanmar về Việt Nam.
 
     Nghệ nhân Đào Trọng Cường - Tổng Giám đốc công ty cho biết, ông đã tiếp cận khối ngọc bích này từ 3 năm trước trong một buổi đấu giá ngọc quốc tế ở Myanmar. Ngay tại thời điểm đó, ông đã mong muốn mua được khối ngọc này về nước để tạc pho tượng Đức Phật Thích Ca Mầu Ni.
 
 
 
 
     Sau một thời gian dài liên tục thương thuyết, đầu tháng 10 vừa qua, chủ nhân của khối ngọc bích này mới đồng ý bán. Khối ngọc bích nặng tới 35 tấn, cao 3m, rộng 2,3m và dày 2,4m trị  giá 1,45 triệu USD.
 
     Hình thái pho tượng Đức Phật Tổ sẽ được tham khảo tại Ấn Độ, nơi sinh ra Đức Phật Tổ và nơi Ngài hoá thân, trước khi tạc. Những chuyên gia hàng đầu về tạc tượng ngọc bích của Trung Quốc sẽ thực hiện và riêng công tạc tượng cũng lên tới 800.000 USD.
 
     Pho tượng Đức Phật khi hoàn thành dự kiến nặng tới 15 tấn, có thể coi là pho tượng Đức Phật Ngọc lớn nhất thế giới. Cho đến nay, pho tượng Phật ngọc được ghi nhận là lớn nhất thế giới đã từng cung thỉnh sang Việt Nam hồi tháng 3/2009 nặng 3,9 tấn, cao 2,5m.
 
     Nghệ nhân Đào Trọng Cường cho biết, sau khi hoàn thành pho tượng Đức Phật Tổ bằng ngọc lớn nhất thế giới, ông sẽ cố gắng hoàn thành thêm một khát vọng đó là xây dựng công trình Ngôi chùa Phật ngọc độc đáo duy nhất ở Việt Nam và thế giới.
 

 

      Khi mùa xuân sang, bạn có cảm nhận được thời khắc tạo vật đâm chồi nảy lộc, bắt đầu một mùa mới ngập tràn sức sống. Những bông hoa hé nở bên những nụ cười tươi xinh rạng ngời. Đẹp lắm và vui lắm cái khoảnh khắc nghe tiếng gió reo trong đôi mắt biết cười, nhìn thấy bóng những chiếc lá chao liệng giữa không trung…

      Bạn có thấy không? Ngoài kia, từng chùm hoa sữa đang nở trắng muốt, tinh khôi như được đơm kết từ những tinh hoa của đất trời. Chỉ ngắm nhìn một chút xinh đẹp dịu dàng của hoa, một chút sáng trong của nắng hửng sau cơn mưa xuân ẩm ướt, cũng đủ thấy lòng lâng lâng một niềm vui cho một ngày mới.

      Niềm vui này cũng giản dị lắm, bạn biết không! Một con đường quen thuộc vẫn đi, bỗng hôm nay có thêm một điều gì đó mới mẻ. Vẫn là một hình bóng đợi chờ, vẫn là những bước đường cũ, nhưng biết trên đó là thương yêu, là nâng niu của những thảm lá trút xuống vàng ruộm cả một khoảng không gian thơ mộng. Là bất chợt lắng nghe một thanh âm trong trẻo như tiếng sáo diều ngân vút giữa bầu trời xanh.

      Cuộc sống với những niềm vui hay nỗi buồn là do chính con người chọn lựa và làm nên? Vậy có lẽ gì bạn không chọn cho mình những niềm vui để thêm yêu đời?

      Dẫu có những nỗi buồn đi ngang cuộc sống, bạn cũng đừng lấy đó làm tuyệt vọng, bởi tất cả những điều đó đến rồi sẽ ra đi. Sao không cất tiếng hát xua tan đi ưu phiền trong vòng tay bè bạn.

 



      Dẫu có vấp ngã trên đường đời, hãy can đảm đứng lên và đi tiếp hành trình mình đã lựa chọn. Mỗi lần thất bại sẽ giúp bạn thêm mạnh mẽ hơn. Giống một điều giản dị đã trở thành chân lý trong tác phẩm nổi tiếng của O.Henry: “Chiếc lá cuối cùng chưa hẳn là sẽ rụng, nó sẽ kiên cường ngự trị trong lòng mỗi người nếu như tin rằng trên cuộc đời này niềm vui và sự sống vẫn còn tồn tại.

      Và như thế, hãy sống mỗi ngày thật vui, sống hết mình cho lòng nhẹ tênh: “
Và như thế tôi sống vui từng ngày. Và như thế tôi đến trong cuộc đời. Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi ”.

      Niềm vui trong cuộc sống còn là cả những phút giây bạn trầm ngâm trong một quán cafe, chờ từng giọt cafe rơi tí tách, nghe tiếng nhạc nhè nhẹ và suy ngẫm về cuộc đời mình, về những gì đã qua…

      Xung quanh chúng ta có biết bao nhiêu những điều kì diệu. Một bữa cơm ấm cúng với gia đình; một công việc vất vả nhưng mang trong nó đầy hoài bão, đam mê; một mơ ước cháy bỏng luôn thường trực trong lòng, một người bạn thân thiết có cái nắm tay rất chặt để cùng nhau đi ngang qua mùa đông thật nhẹ nhàng! Ấy chính là hạnh phúc!


Và như thế...

 

- Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui cho riêng mình !

 


 

 

  

     Vài năm gần đây, khi mà các thống kê y học cho thấy tỷ lệ người máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, hàm lượng Cholesterol trong máu; tỷ lệ người bị bệnh tiểu đường… tăng cao, thì ở Thủ đô, không chỉ riêng Nàng Tấm, mà đã xuất hiện hàng loạt quán cơm chay mới như quán Thiên Nhiên bên đường Thái Hà, quán Trường Sinh ở Khu tập thể Trương Định, quán Thành Tâm bên đường Phó Đức Chính, quán An Lạc ở 15 Hàng Cót… để đáp ứng nhu cầu ăn chay thực dưỡng của khách. Từ những nguyên liệu thực vật bình dị và đơn giản, người làm thức ăn chay với trí tưởng tượng phong phú và tài nghệ đôi tay đã sáng tạo nên hàng trăm món ăn ngon, hấp dẫn với các tên gọi như giò, nem, ninh, mọc, cá, trứng, thịt bò… y như thật, món nào cũng ngào ngạt hương thơm, đậm đà gia vị, hài hòa màu sắc để ai đó dù chỉ một lần được thưởng thức cũng khó có thể quên, có người được ăn đôi ba lần mà trở thành “ nghiện ”.

 

 

     Nghe nói, sư cụ Đàm Anh, trụ trì tại chùa Phụng Thánh ở cuối ngõ Cổng Trắng đường Khâm Thiên, chỉ với rau, măng, dưa, đỗ mà có thể chế biến ra tới 400 món ăn ngon thì quả là tài nghệ. Các món chay chẳng những giàu chất dinh dưỡng, lợi cho sức khỏe, có thể chữa được một số bệnh, mà nó còn hàm chứa những giá trị nhân văn có gốc gác từ triết lý “tứ diệu đế”- bốn chân lý diệu kỳ - của nhà Phật, là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo; giúp người ta sống nhân bản và hướng thiện.

     Theo quan niệm của tứ diệu đế, cuộc sống của chúng sinh chủ yếu là khổ (chân lý về khổ); nguyên nhân của khổ là do chúng sinh bị ràng buộc quá nhiều vào những ham muốn bình thường (chân lý về tập); do đó muốn khỏi khổ, chúng sinh phải diệt trừ tận gốc các ham muốn thái quá (chân lý về diệt); để diệt được các ham muốn, chúng sinh phải thực hành đạo (chân lý về đạo). Ăn chay cũng là một trong những phương thức để người đời thực hiện các “chân lý” của Phật giáo.

   Hàng ngày mọi người nên chú ý đến việc ăn uống, đừng qúa ham mê chốn rượu thịt ồn ào mà tổn hại sức khỏe. Đến Tịnh Tâm, từ chú “tiếp viên” áo nâu sồng đến cô chủ quán mau miệng đều cho thực khách những liên tưởng về chốn thiền môn, cho ta cảm giác bình yên khi mọi sự xô bồ như để lại phía sau. Trước lúc chúng tôi ra về, sư thầy Nguyên Dược còn cho nhà sư Thiện Hải viết tặng mỗi người một chữ: hoặc là Tâm, Đức, hoặc là Phúc, Nhẫn như là một lời chúc tốt lành. Thư pháp của sư Thiện Hải khá cừ khôi, nét chữ rắn rỏi mà uyển chuyển, mềm mại mà biến hóa. Tôi chợt nhìn lên tường, một bức thư pháp lớn có mấy câu thơ:

 

Trăm năm trước ta còn chưa  gặp

Trăm năm sau biết gặp lại không?

Cuộc đời sắc sắc không không

Thôi thì hãy sống hết lòng với nhau .

 

      Càng thấy rằng cuộc đời này cần lắm những tấm lòng nhân hậu, vị tha để mỗi người bình tâm bước qua những ham muốn thái quá, mỗi người biết vì mọi người, vì cả chúng sinh, biết tu nhân, tích đức. Ngẫm ra, một cõi cơm chay mà khơi gợi bao điều.

 

                                     

 

- Người Sài Gòn nô nức đi ăn Chay .

Thứ sáu, 21/08/2009 - 11:09:am

     Hôm nay 20/8, nhằm ngày 1/7 âm lịch, ngày đầu tiên của tháng ăn chay báo hiếu, thay cho những bữa cơm mặn, đông đảo người dân Sài Gòn rủ nhau đi thưởng thức cơm chay.


 

Quán Thuyền Viên đã quá tải nhưng khách vẫn nườm nượp kéo đến.
 
 
     Tại các quán chay khắp TP, lượng khách tăng gấp 5-10 lần so với ngày thường. Trong dịp này, việc ăn chay không còn dành riêng cho quý thầy và Phật tử, tháng Vu lan báo hiếu, người ta ăn chay để cầu bình an cho đấng sinh thành.
 
 


     Trưa nay, các quán cơm chay đều đông nghịt khách. Mới 11h trưa, nhiều quán đã “cháy” chỗ. Rất đông thực khách chấp nhận xếp hàng mới mua được đồ ăn. Nhiều thực khách là công chức chấp nhận mua hộp đồ chay mang về cơ quan ăn.


     Giá của những phần cơm chay không mấy thay đổi so với ngày thường, từ 10 -12 ngàn đồng/suất.

 

 

Một quán chay không còn chỗ trống

     Một năm chỉ một mùa Vu Lan .Ai ai cũng ít nhất một lần ghé đến những quán ăn chay để thưởng thức những món Chay .Để tĩnh tâm công đức trời cao biển rộng của Cha Mẹ .Thành tâm và thiện ý .

 

 

- Lễ hội “ Ẩm thực chay mùa báo hiếu ”

Thứ năm, 20/08/2009 - 03:20:pm

     Sáng nay 20/8, lễ hội “Ẩm thực chay mùa báo hiếu” chính thức khai mạc tại Nhà Thiếu nhi thành phố. Buổi sáng khai mạc, hơn 2.000 Phật tử cùng người dân TPHCM đã nô nức tới tham dự.



Lễ hội ẩm thực thu hút hàng ngàn Phật tử và người dân.
 
     Ngay từ sáng sớm, hàng ngàn bà con Phật tử đã tề tựu trước cổng chờ khai mạc. Thật hiếm có dịp tất cả các nhà hàng, quán chay khắp Sài Gòn hội tụ về một điểm, trưng bày hơn 200 món chay cổ truyền và hiện đại. Đến với ngày hội, mỗi người chỉ cần bỏ ra 10-20 nghìn đồng là có thể chọn được cho mình những món chay vừa ý. Món ăn đa dạng, hấp dẫn đã làm hài lòng những người tham gia lễ hội.
 
 

Hơn 200 món chay được trưng bày đẹp mắt, hấp dẫn.

 

     Hòa thượng Thích Đạt Đạo, trưởng ban tổ chức lễ hội, cho biết: “Hàng năm, các nước như Thái Lan, Singapore đều tổ chức lễ hội chay hàng tháng trời thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước. Ban tổ chức mong muốn từ nay ngày hội “Ẩm thực chay mùa báo hiếu” sẽ trở thành lễ hội thường niên, giới thiệu nghệ thuật ẩm thực độc đáo của người Việt”.

 

 

    Cũng theo hòa thượng Thích Đạt Đạo, lễ hội “Ẩm thực chay mùa báo hiếu” ngoài ý nghĩa ăn chay vì sức khỏe,  bảo vệ môi trường còn là dịp để báo hiếu công ơn đấng sinh thành trong mùa Vu Lan.
 
 

Báo hiếu ơn sinh thành trong mùa Vu Lan.

 

   Cũng trong lễ khai mạc, ban tổ chức đã trao quà cho các Mẹ Việt Nam anh hùng và Mẹ Việt Nam vượt khó.
 

 

 

     Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật dạy nghệ thuật không nhân lớn khổ đau. Nghệ thuật đó có thể được triển khai dưới nhiều góc độ tâm lý:

 

 

     Thứ nhất là khoanh vùng cảm xúc khổ đau để lòng hận thù chỉ có mặt trong vùng này thôi. Cách thức đó có thể hình dung giống như nghành y học đưa tiêm chủng vào co thể, tạo ra vùng kháng thể, cô lập hoàn toàn vi trùng độc hại xâm nhập vào.Tương tự, khoang vùng cảm xúc của lòng thù hận lại để nó không lan truyền cho thân bằng quyến thuộc của ta. Nếu để nó truyền, chẳng những mình bị khổ đau mà người khác cũng khổ đau tương tự.Nếu thương thân bằng quyến thuộc và thương bản thân thì trước hết hãy khoanh vùng cảm xúc giận dữ đó lại.

 

 

     Khoanh vùng như thế tạo cho ta cảm giác an toàn khi ta chưa đủ sức chuểyn hoá nó bằng cách quán “không có tác giả” thì ít nhất ta vẫn có thể sống được yên ổn. Quán tưởng nhiều về cảnh giới của sự sống bổng dưng ta cảm thấy mình cần có tình thương yêu để thay thế những nỗi khổ đau trong quá khứ.

 

 

     Trong quan niệm về tình thương yêu,ta có thể tự an ủi chính mình rằng có lẽ trong một kiếp nào đó mình đã từng tạo ra cảnh ngang tái cho người khác. An ủi như thế giúp cho mình buôn đi nỗi thù hận ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, nếu ai cứ quy hết trách nhiệm vào quá khứ thì người đó sẽ rơi vào chủ nghĩa định mệnh, không phát khởi nổ lực rằng “tôi phải làm lại cuộc đời, tôi phải cách tân, tôi phải thay đổi, tôi phải phấn đấu, tôi phải vươn lên.”Quy trách nhiệm về quá khứ chính là kẻ thù của sự tiến hoá.

 

 

     Dù tin vào nhân quả nhưng ta phải xác định rõ những hạt giống đã gieo trồng trong quá khứ.Nó sẽ tồn tại dưới dạng thức năng lực và năng lực này được kích hoạt theo quán tính của thói quen.Quán tính đó có thể chi phối đời sống sinh hoạt, tư tưởng , ý thức của ta khoảng 30% đến 50% là hết. Còn 50% đến 70% còn lại lệ thuộc rất nhiều vào ý thức tư duy, hành động, lời nói, việc làm, cử chỉ và cách thức giao tế ta trong hiện tại.

 

 

     Ý thức dược như vậy thì ta không đổ lỗi cho quá khứ. Đỗ lỗi cho quá khứ có thể dẫn đến tình trạng đổ lỗi cho thời cuộc, cho hoàn cảnh, cho bất cứ cái gì mà ta có thể gán ghép. Người như thế sẽ rơi vào tình trạng bế tắc không có lối thoát.

 

 

     Hoá giải hận thù là một trong những nhu cầu rất cần thiết.Hãy bình tĩnh để phân tích rõ ràng nguyên nhân chủ quan, khách quan,nguyên nhân cộng nghiệp của một thời đại,một giai đoạn lịch sử hay nỗi bất hạnh chung cho một cộng đồng. Khi thấy được chân tướng của các nguyên nhân rồi thì ta hãy bắt tay làm mới cho cuộc đời mình, hãy tập sống trong trạng thái vô uý. Lúc đó ta sẽ không còn bị chi phối bởi những biến cố đau thương trong đời.

 

 

     Nếu bế tắc thuộc bóng tối hãy hướng tâm mình về mặt trời; nếu bế tắc là khổ đau thì hướng tâm mình về hạnh phúc;nếu bế tắc là thù hận thì hãy hướng tâm mình về sự tha thứ;nếu bế tắc là sự ngột ngạt đơn lẽ thì hãy hướng tâm mình về một bầu không gian vô tận. Ở đó ta không hề thấy sự trói buộc ngang trái giao thoa với nhau.

 

 

     Cứ để tâm mình vào một hư không rỗng lặng thì hận thù sẽ không có chỗ bám víu. Dù muốn bám víu đi nữa cũng bị rơi vào trạng thái chân không không bị lực hút của trái đất. Lực hút của trái đất trong tình huống này là sự thù hận,là tật đố kỵ, là trạng thái bất an. Bỏ hết tất cả những dây mơ rễ má này, ta sẽ tồn tại trong trạng thái chân không, không còn dính dáng gì những biến cố của cuộc đời. Lúc đó ta sẽ biết tôn trọng chính mình và biết chăm sóc cảm xúc của mình trong bất cứ trường hợp nào. Đây cũng là yếu tố quan trọng để dẫn đến thành côngtrong ứng xử.

 

 

     Nếu ta bất hạnh sanh ra một truyền thống văn hoá tương tự Hồi giáo thì ta khó có cơ hội chăm sóc cảm xúc của mình vì ta đã bị tiêm chủng bằng chủ nghĩa cực đoan và khủng bố. Người theo các giáo phái cực đoan có thể được nhồi sọ rằng giết kẻ thù nhiều chừng nào thì sẻ sớm có visa vào thiên đàng chừng đó Lòng si mê cuồng tính này đã làm cho con người dấn thân vào khổ đau, tạo ra sự bế tắc mà họ lại vui mừng hân hoan tình nguyện.

 

 

     Quan niệm về Thánh chiến trong Hồi giáo là sai lầm. Không có chiến tranh nào là thánh thiện. Tất cả chiến tranh đều mang lại khổ đau và nạn nhân chính là những người dân vô tội. Dù chiến tranh đó là chánh nghĩa thì đau khổ vẫn luôn có mặt. Nhân chiến tranh lên thành một chân lý tôn giáo đã làm cho rất nhiều người bất hạnh. Nỗi bất hạnh đó kết thành vòng từ trường của thù hận.

 

 

     Khi những chiến sĩ qua đời với lòng thù hận thì trong kiếp sau họ lại tiếp tục có những trạng thái tâm lý thù hận. Cứ thế mà kết thành dây mơ rễ má từ kiếp này sang kiếp nọ rất nguy hiểm. Đức Phật dạy nhiều phương pháp quán để tháo gỡ bế tắc đó.

 

 

 

- Bi kịch lớn nhất của thời đại.

Thứ năm, 13/08/2009 - 02:51:pm

Bản năng hưởng thụ
 

     Ai trong chúng ta cũng có sẵn thói quen yêu thích cảm giác dễ chịu và kháng cự lại những cảm giác khó chịu. Đây cũng là bản năng tự nhiên của con người. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, con người đã nghiệm ra được đâu là con đường đi tới hạnh phúc chân thật. Trên con đường ấy, kẻ lữ hành đôi khi phải chấp nhận những cảm giác khó chịu, phải đương đầu với những hoàn cảnh khó khăn, tại vì chỉ có cách đó thì những chất liệu tinh anh của con người mới phát tiết ra được. Nói cách khác, một người hạnh phúc không phải là người luôn may mắn, mà ngược lại, đó chính là kẻ có nội lực vững vàng, có khả năng ôm ấp và chuyển hóa mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh.

 

     Cố nhiên do cấu trúc tâm sinh lý mỗi người khác nhau nên bản tính cũng khác nhau, điều này ảnh hưởng nhiều nhất từ di truyền hoặc do môi trường lớn lên. Nhưng phần lớn mọi người đều có khuynh hướng tìm tới sự hưởng thụ, thích được cưng chìu, thích ăn sung mặc sướng, thích là tâm điểm chú ý của kẻ khác, thích được công nhận và khen ngợi ngay từ khi mới bắt đầu trưởng thành. Một đứa bé lớn lên trong hoàn cảnh thuận lợi, muốn gì được nấy, sớm có cơ hội để bộc lộ tài năng, đi từ thành công này đến thắng lợi khác, tuy nhìn đứa bé ấy có một tương lai xán lạn đang mở ra nhưng trong chiều sâu vẫn thiếu một chất liệu cực kỳ quan trọng, đó là khả năng chịu đựng những cảm xúc xấu.

 

     Bởi đường đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng, nếu ta không trang bị cho mình một khả năng có thể đối đầu và ứng phó mọi hoàn cảnh, thì sẽ có lúc ta ngã nhào hoặc rơi tõm vào vực thẳm khổ đau. Và chỉ có những điều bất như ý, những hoàn cảnh trái ngang xảy đến mới giúp cho những phản ứng bảo vệ cái tôi hiện ra, giúp ta tập làm quen với những phiền não trong lòng mình, để hiểu và tự học cách chuyển hóa nó. Trong đời sống, ta đã từng gặp những người có đầy quyền lực, danh tiếng, rất đông người ngưỡng mộ, nhưng họ rất dễ bị tự ái, tổn thương, một chút bất như ý xảy ra cũng có thể làm cho họ cuống cuồng, đau khổ. Đó là một kẻ yếu đuối, chưa biết cách sống và chưa có vốn sống.

 

     Ta có thể nhận ra nội lực yếu kém của mình ngay từ thuở nhỏ như không thích chơi các môn thể thao hay các công việc có tính chất vận động nhiều đến tay chân, không thích những người bạn có cá tính tức là họ không theo sở thích của mình, không muốn đến những nơi mà người ta không quý mến mình, không thích làm cái gì có tính chất động não hay tốn nhiều công phu, không hứng thú với những môn học khô khan, không muốn đối diện với chính mình khi gặp khó khăn, không ưa những thực phẩm có tính chất bổ dưỡng nhưng lại không hợp khẩu vị, không thích những lời nói cứng cỏi dù đó là những lời góp ý chân tình, cái gì thích là phải có cho bằng được nhưng lại mau nhàm chán, còn vốn sống thì luôn dừng lại ở kinh nghiệm cũ chứ không chịu cập nhật hay khám phá…

 

     Vì thiếu hiểu biết nên ta lầm tưởng cứ sống thật với bản năng của mình là được. Nhưng đến khi đối đầu với những trận giông bão lớn lao trong đời, ta mới phát hiện ra mình có quá nhiều lỗ hổng trong hiểu biết. Cái này bằng cấp không thể thay thế được. Vậy đó, ta đã bỏ ra hàng chục năm trời để nhồi nhét kiến thức, mục đích cũng chỉ để kiếm được nhiều tiền hay muốn được công nhận và cho đó là sự nghiệp cả đời người, chứ có mấy ai để ý tới việc nuôi dưỡng phẩm chất tâm hồn. Để rồi một lúc nào đó ta sẵn sàng xô ngã sự nghiệp khổ công gầy dựng ấy, thậm chí ta muốn hủy diệt luôn cả mạng sống của mình chỉ trong một cơn cảm xúc không kềm tỏa được. Dường như con người ngày càng bị cuốn vào vòng hưởng thụ bất tận của một xã hội văn minh, nhưng lại trở nên mờ mịt và bất lực với chính mình hơn bao giờ hết. Đây chính là bi kịch lớn nhất của thời đại.

 

Giảm phẩm chất đời sống

 

     Có bao giờ ta tự hỏi mình mỗi khi ta muốn dừng lại một cuộc vui để trở về nhịp sống bình thường, muốn tắt ti-vi hay rời internet để đi ngủ sớm, muốn nói cho người kia biết là mình đang rất mệt mỏi nên không thể lắng nghe câu chuyện ấy tiếp tục, muốn nói lời từ chối vì biết nhận công việc này rồi ta sẽ trở nên căng thẳng và đánh mất sự sống của chính mình, muốn đừng trễ hẹn để người kia không than phiền hay coi thường mình nữa, muốn công việc không bị ngâm tới giờ phút cuối rồi mới chịu giải quyết, muốn suy xét tận tường trước khi làm một quyết định… tại sao là một trở ngại quá lớn đối với ta? 

 

     Ngay cả khi ta biết người kia đang rất sai và cần được nhắc nhở hay soi sáng, nhưng ta lại không thể mở lời. Những buổi trưng cầu ý kiến ta biết mình cần nên đóng góp chút kinh nghiệm thành công, nhưng lại lo sợ không được thính chúng ủng hộ. Mỗi khi ta muốn bộc lộ tình cảm hay chia sẻ cho người kia biết những thao thức của mình, nhưng thường dễ bị khựng lại khi thấy bên kia đang hờ hững. Đến khi người kia muốn mời ta ngồi xuống để chất vấn về những vụng về lầm lỡ của ta vừa qua, thì ta luôn tìm cách tránh né hay phản ứng quyết liệt. Nói chuyện với người ngoài thì lúc nào ta cũng cảm thấy thoải mái và muốn kéo dài câu chuyện, nhưng về lại gia đình thì ta cứ như một tảng băng. 

 

     Tất cả những phản ứng đó ta thường nghĩ là bản năng tự vệ của con người, mỗi người một kiểu sống, nhưng kỳ thực đó là những nút thắt tâm lý rất nguy hại, làm phẩm chất đời sống của chính bản thân ta hay những liên hệ chung quanh ta bị suy giảm rất nhiều. Tên gọi của nó là “nghiện cảm xúc”, hay nói bằng một thái độ phê phán thì đó là tính cách của một kẻ yếu đuối. Dường như đời sống của ta là một chuỗi cảm xúc chập chùng buồn-vui, yêu-ghét, khó chịu-hài lòng, sung sướng-khổ đau, chứ ta chưa bao giờ để cho tâm ý của mình được nghỉ ngơi một cách trọn vẹn. Tâm ý ta chưa từng được thảnh thơi để quan sát vào bất kỳ đối tượng nào cũng không thành kiến, để chiêm nghiệm những chân lý của cuộc sống, để phát triển những phẩm chất quý giá trong tâm hồn.

 

     Ta nên nhớ bản chất chân thật của hạnh phúc là phải có chất liệu của sự bình an, một trạng thái tâm lý không bị ràng buộc bởi bất kỳ đối tượng dao động nào ở bên ngoài. Hạnh phúc mà không có bình an thì coi chừng đó chỉ là một cơn cảm xúc thỏa mãn trong nhất thời, nó đến và đi vội vàng như một cơn gió lốc để lại sự xáo trộn và ngổn ngang trong tâm hồn như một chuyến tàu đêm. Nghĩa là chỉ khi nào ta vượt khỏi sự khống chế của những cơn nghiện cảm xúc, sử dụng nó một cách linh hoạt và tự tại, thì ta mới thiết lập được một đời sống vững vàng và đem lại hạnh phúc thật sự cho kẻ khác.

 

Từ nương tựa đến hệ lụy

 

     Có một cậu bé mù đến nhà người bạn chơi, do mải mê trò chuyện nên cậu ta không hay trời đã tối. Người bạn mới thúc giục cậu bé nên về sớm và trao cho cậu một cây đèn.  Cậu bé mù tức cười quá, vì đối với cậu ban ngày và ban đêm có khác gì nhau đâu, không hiểu người bạn đưa cây đèn cho mình để làm gì. Người bạn liền giải thích “Anh cầm cây đèn này đi, người ta thấy anh người ta sẽ tránh”. Nghe có lý, cậu bé hoan hỷ cầm cây đèn ra về. Trên đường về, cậu bé cứ đưa cây đèn lên và lủi thẳng về phía trước, vì cậu nghĩ hôm nay chắc ai cũng sẽ tránh mình cả, cây đèn sẽ đưa mình về tới nhà an toàn. Được một đoạn đường, bỗng dưng có một người đâm sầm vào cậu và cả hai đều ngã nhào. Bực quá, cậu hét to: “Bộ không thấy cây đèn của tôi sao mà không chịu tránh vậy?”. Người kia cười lớn: “Cây đèn của anh đã tắt lâu rồi, anh mù ơi”.

 

      Tự thân của cậu bé có thể đi đường vào ban đêm theo thói quen đã rèn luyện của mình, nhưng từ khi được trao cây đèn thì cậu lại đánh mất chính mình, đem cả sinh mệnh của mình phó thác cho cây đèn mà thực tế chưa hề thấy được chân tướng của nó. Cây đèn là vật ngoài thân, bản chất của nó là luôn thay đổi, nó có thể hết dầu hoặc bị gió thổi tắt bất cứ lúc nào, nhưng vì bị mù nên cậu bé chỉ biết ra nó qua sự giới thiệu hời hợt của kẻ khác. Cậu bé thật tội nghiệp khi cứ đinh ninh là cây đèn sẽ mãi soi sáng cho mình trên suốt lối về, kết quả là cậu đã ngã một cú đau điếng mà vẫn không rõ nguyên do nên cứ đổ thừa và trách giận kẻ khác. 

 

      Ai trong chúng ta cũng có những cây đèn, nhưng thái độ cầm đèn của mỗi người khác nhau. Có người sử dụng nó như một sự hỗ trợ để thăng hoa phẩm chất đời sống, nhưng có kẻ lại bị kẹt vào cây đèn và trở thành kẻ hệ lụy. Ngay từ vạch xuất phát, có thể ta cũng ý thức được tiền bạc, quyền lực hay tình cảm chỉ là tiện nghi của đời sống, nghĩa là nó sẽ làm cho cuộc sống của ta thêm hương vị và trôi chảy. Không ngờ đi được một đoạn đường không xa, ta bỗng phát hiện ra sự nương tựa trong ta đã biến thành thái độ hệ lụy mất rồi. Vì vậy khi những cây đèn của ta bị chao đảo hay vụt tắt thì cuộc đời ta dường như cũng bị chao đảo và muốn tắt lịm theo, ta không còn gì để sống cả. 

 

     Đó cũng là lý do tại sao hiện nay số lượng người tự tử cứ tiếp tục gia tăng, mà phần lớn là những người trẻ, rất thành đạt, rất nổi tiếng, hay ở những quốc gia văn minh cường thịnh. Có thể họ không muốn rời xa cõi đời này nhưng họ đã không còn lối thoát, hoặc cũng có thể họ cho rằng con người và xã hội này quá tồi tệ nên họ phải đi tìm một thế giới khác hấp dẫn hơn. Nhưng dẫu sao để tìm tới cái chết thì đó vẫn là một quyết định rất khó khăn, rất đau khổ, họ gần như không còn sự lựa chọn nào tốt hơn để giải quyết vấn đề, mà thực chất chính là giải quyết cơn cảm xúc xấu trong họ đang bùng vỡ. Đây là kết quả của đời sống vùi mình vào những cơn cảm xúc đến mức nghiện ngập, để rồi một hôm cây đèn mang tới cảm xúc kia vụt tắt thì cuộc đời họ bỗng trở thành đen tối đến hoang vu.

 

     Ta hãy nhìn vào cách sống của mình để biết mình có đang hệ lụy vào những cây đèn không? Hãy tưởng tượng cây đèn kia nếu không tồn tại nữa thì ta sẽ ra sao? Và nếu gan dạ thì ta hãy thử tách lìa một thời gian những cây đèn nào mà ta biết rằng mình đang có khuynh hướng vướng kẹt vào nó để xem nội lực của mình còn được bao nhiêu.  Nếu tệ, ta vẫn còn kịp để trở về chăm sóc đời sống tinh thần của mình, vẫn còn kịp để không bị những cây đèn hấp dẫn kia đưa mình vào vũng lầy tăm tối. Nếu thấy khó, ta nên bắt đầu từ những cây đèn nhỏ nhất, tập buông xả những điều kiện tiện nghi dư thừa dù là vật chất hay tình cảm, để thần lực của ta không còn những chỗ tiêu tốn mà chấp nhận quay về.

 

     Mỗi khi phát sinh ý niệm muốn tìm kiếm thêm những cây đèn thì ta hãy tự nhắc nhở mình là có thật sự cần thiết không, mình đã có những cây đèn này chưa, ta có tin rằng khi cầm cây đèn này thì cuộc đời mình sẽ tỏa sáng hơn hay sẽ đưa tới sự ràng buộc? Bằng tâm trạng cô đơn lạc lõng hay tham đắm mà ta quyết định chọn cây đèn ấy tức là ta đã đem cuộc đời của mình ra để làm một chuyến phiêu lưu mạo hiểm rồi. Cho nên vượt qua được bản năng, chiến thắng được những bóng ma trong lòng, biết điều tiết cảm xúc một cách hợp lý thì kẻ ấy có bản lĩnh đi vào cuộc đời đầy biến động này một cách bất động.

 

     Thương thay những kẻ vì muốn đem đến cho đời những tuyệt phẩm mà vô tình nuôi lớn những cảm xúc lừng lẫy trong chính mình. Họ đã chấp nhận kiếp tơ tằm vì không thể cưỡng lại niềm đam mê cháy bỏng, nhưng lại cứ lầm tưởng rằng đó là số phận hay vì thương quá cuộc đời này. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng ru mình trong ngậm ngùi  “Tim nào có bình yên, ta rêu rao đời mình, xin người hãy gọi tên. Có những lúc con tim lý trí phải đứng lặng câm chào thua những giọt máu cuồng điên, khiến tôi lại đem cuộc đời mình ra rao bán, thì xin những người bạn hãy gọi đúng tên tôi để tôi được thức tỉnh. Ôi, con tim xanh xao gầy guộc từ thuở ấy, ta đã chịu dừng lại để mở ra một chân trời bình yên hay vẫn khôn nguôi cuộc rong ruổi tội tình, chứ cuộc đời nào khẩn thiết gọi tên!

 

      Quay về hướng mặt trời

Cắm rễ vào sự sống

 

 

 

 

 

 

                              Vườn tâm đã hoang tàn

 

  Thôi bỏ hình bắt bóng.

 

 

 

     Tâm thiền không chỉ chấp nhận sự đổi thay. Thiền rất tán thán những cú thúc bất ngờ lật ngược tình thế. Khi nhịp sống thay đổi thực tại, ta có cơ hội vượt ra khỏi nước chết, xoay mình tiến lên tầm cao hơn.

 

 

Thực ra, chúng ta thay đổi từng sát na. Ngoài cái già của cơ thể, mỗi ngày đời sống nội tâm ta còn trải qua hàng nghìn chuyển đổi. Tâm trạng, cảm xúc, dự định, khát vọng, tất cả thoáng biến thoáng hiện trong ta như gió thổi qua cây.

 

Khi cảm nhận mình đang dự phần vào guồng máy năng động của vô thường, một sự bình yên rất mới mẻ sẽ giúp ta giữ vững đôi chân giữa mọi đảo điên nghiêng ngửa. Ta biết rõ rằng những cái đó cũng sẽ qua thôi.

 

 

Như gió thổi qua cây

Tâm thiền thích tính không cố định. Thay vì chống đối, nên tùy thuận. Vững tin vào cái biết bên trong mình, mặc tình mọi sự đến đi.

 

Buông

Cứ sống, nhìn mọi sự như thị, không gò theo ý muốn của mình. Và để câu trả lời tự đến.
Đừng nương tựa vào đâu cả: Bạn sẽ vững vàng.

 

 

Biến chuyển

Biến thiên là quy luật duy nhất của vũ trụ. Có khi chăm bón một khu vườn, nhìn nó lớn rộ xanh tươi, ta thấy tốt hơn hết là hãy để mặc nó.

 

Mọi sự đều qua

“Mọi sự đều qua” phương châm Thiền. Các pháp thế gian biến thiên cống hiến những viễn cảnh mới. Khi đời tặng một viên thuốc đắng, ta lại buông bỏ dễ dàng hơn những thứ chẳng cần thiết.

 

 

Trò chơi đổi chuồng

Tạo hạnh phúc cho mình ư? Không làm được.
Để cho mình được hạnh phúc? Dễ hơn thay nón.
Một dòng sông, vô số suối nhỏ.

Chú tâm sống với hiện tại, bạn sẽ hòa nhập thực tại. Hết lòng với cuộc sống, bạn sẽ hòa nhập cuộc sống. Và cái phong phú của đời sống tuôn chảy vào bạn.

 

 

Tha thứ

Quên lãng hiện tại khiến trái tim đông cứng với quá khứ.
Nhiều ý kiến - giải quyết chung
Đơn độc, nghèo nàn, khắc khổ ư? Hãy làm sư và sống kiểu ấy nếu bạn muốn.
Tiện nghi, danh tiếng, giàu sang ư? Tốt, cũng cứ nhận luôn.
Có chúng hay không, tâm thiền chỉ cần cảnh hoàng hôn và một hớp trà là đủ mãn nguyện.
Nhanh lên! Không có gì phải vội.

 


Nền tảng vững chắc
Bỏ hết đi nào luyện tập, sách vở, nắm bắt.
Cứ đối diện cuộc sống thoải mái, vững chãi như cây du.
Không để lỡ
Người sống ổn định thực sự biết bắt kịp nhịp thay đổi mỗi ngày.

 

 

 



 

Tiệm Cơm Chay Bu Đa Nguyên Thủy

175/16 Phạm Ngũ Lão, P. PNL

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8371910

 

Bodhi Tree (Cây Bồ Đề)
175/6 Phạm Ngũ Lão

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8391545

Nhà Hàng Chay Hoa Đăng
38
Huỳnh Khương Ninh, P. Đa Kao

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8209702

 

Tiệm Cơm Chay Thiên Nguyên
174
Calmette, P. NTB

Q. 1, TP. Hồ Chí Minh  
Điện thoại: (08)
9147453

 

Cơm Chay Nàng Tấm
79 Bis (Hẻm 77) Điện Biên Phủ

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8292965

 

Nhà Hàng Tib Chay

170 Trần Quang Khải,

Q. 1, TP. HCM

Điện thoại: (08) 8469685

Pháp Hoa  
200 Nguyễn Trãi
Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8395893

Tiệm Cơm Chay Định Ý
171 B Cống Quỳnh

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8367715

 

Cơm Chay Cát Tường
15 Bis Trần Khánh Dư
P. Tân Định,

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8467086

 

Restaurant Chay Vegetarian
170 Trần Quang Khải

Q. 1, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8469685

 

Tín Nghĩa
9 Trần Hưng Đạo

Q. 1, TP. HCM

Điện thoại: (08) 8212538

 

Tịnh Tâm Trai
170A Võ Thị Sáu , Q. 3
Điện thoại: (08) 8202230 

 

Tiệm Cơm Chay 40

332 Lê Văn Sỹ, P.14,

Q.3, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9316887

 

Tiệm Chay Hương Viên

101 Vườn Chuối F.4,

Q.3, TP. HCM

 

Giác Đức

492 Nguyễn Đình Chiểu,

Q. 3, TP. HCM

Điện thoại: (08) 8356161

 

Cơm Chay Vạn Duyên
206 Nguyễn Thiện Thuật, P.3,

Q. 3, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8359580

 

Tiệm Cơm Chay Âu Lạc

60 Tân Vĩnh, P. 6

Q. 4, TP. HCM

Điện thoại: (08) 8265856

 

Tiệm Cơm Chay Liên Hoa

4 CC Đoàn Văn Bơ P.12,

Q.4, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8254495

 

Tiệm Cơm Chay Chân Phương
Địa chỉ: 322 Cao Đạt, P.1,

Q.5, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9235859

 

Tiệm Cơm Chay 150
150 M
inh Phụng, P.6,

Q.6, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9601283

 

Tiệm Cơm Chay Tuyền Lâm
87 Phạm Phú Thứ, P.3,

Q.6, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9672504

 

Quán Cơm Chay Số 7
7 Lê Quang Sung, P.6,

Q.6, TP. HCM
Điện thoại: (08)9605395

 

Tiệm Cơm Chay Thiên Hương

149 Lê Quang Sung, P.2,

Q.6, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9693197

 

Tiệm Cơm Chay Dì Bảy An Đông
166B B
ãi Sậy, P.1,

Q.6, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9670920

 

Cơm Chay Thanh Lương

545A Đường Ba Tháng Hai, P.8,

Q.10, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại:  (08) 8552286

 

Quán Cơm Chay Viên Giác

404 Hòa Hảo, P.5,

Q.10, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8534876

 

Tiệm Cơm Chay Bồ Đề

36B Đường 2, P.15,

Q.11, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8635088

 

CH Thực Phẩm Chay 24

24F Lò Siêu, P.16,

Q.11, TP. HCM
Điện thoại: (08)
9693083

 

Tiệm Cơm Chay Giác Hoa
232 Lãnh Binh Thăng, P.13,

Q.11, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8580368

 

Tiệm Cơm Chay Hoàng Nhi
2/56 H
à Huy Giáp, P. Thạnh Lộc,

Q.12, TP. HCM
Điện thoại: (08)
7162196

 

Tiệm Ăn Thiên Quyên
17/30 ÂU CƠ, P.14,

Q.TB, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8109563

 

Tiệm Cơm Chay Tịnh Tâm
2H B
ình Giã GIÃ, P.13,

Q.TB, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8496381

 

ÂU LẠC - CTY TNHH SXKD THỰC PHẨM CHAY ÂU LẠC
63-65 N
guyễn Kiệm, P.3,

Q.GV, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8940211
Website: aulac_vegafoods.com
Email: aulac2000@hcm.vnn.vn

 

Cơm Chay 27
27 Phan Xích Long, P.2

Q. Phú Nhuận, TP. HCM
Điện thoại: (08) 8421193 - Cell: 0908 549971

 

Tiệm Cơm Chay Hương Sen

134 H Văn Huê, P.9,

Q.PN, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8457469

 

Tiệm Cơm Chay Thuyền Viên
11-13 N
guyễn Văn Đậu, P.5,

Q.PN, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8432643

 

Tiệm Cơm Chay Cát Tường
369
Lê Quang Định, P.5,

Q.BT, TP. HCM
Điện thoại: (08)5151048

 

Tiệm Cơm Chay Hỷ Lạc
102
Đinh Tiên Hoàng, P.1,

Q.BT, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8433338

 

Cơm Chay Thiên Ý

Địa chỉ: 40 VẠN KIẾP, P.3, Q.BT, TP. HCM
Điện thoại: (08)8417264

 

Cơm Chay Phước Duyên

44 Đ, Đường Số 6, Bình Trị Đông,

Q.Bình Tân, TP. HCM
Điện thoại: (08)
7511649

 

Thiên Nhiên 2
143 Bạch Đằng,

Q.Bình Thạnh,
Điện thoại: (08) 8996554

 

Tiệm Cơm Chay Vũ Hồng

318 Xo Viết Nghệ Tĩnh, P.25,

Q.BT, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8999570

 

Tiệm Cơm Chay Kỳ Duyên

100 Tổ 9 Tôi Ngọc Vân, P. Linh Tây,

Q.TĐ, TP. HCM
Điện thoại: (08)
8970336

 


 

- Chùa Thiên - Mụ ( Linh Mụ ) - Huế .

Thứ sáu, 10/07/2009 - 12:24:pm

 

Chùa Thiên Mụ - Huế

 
 
       Vị trí : Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

       Đặc điểm : Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế.

      Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng, từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa tọa lạc ngày nay và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Khi nói xong, bà biến mất. Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. 

      Năm 1601, chùa được xây dựng. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3.285kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. 

      Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m).

      Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa. 

      Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.

      Ngày nay chùa Thiên Mụ vẫn luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.

 

 

 

Chùa Một Cột

 

     Vị trí: Phố Chùa Một Cột, quận Ba Đình, Hà Nội.

     Ðặc điểm: Chùa có kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông sen cách điệu từ dưới nước vươn lên.

     Chùa Một Cột có tên chữ là Diên Hựu (phúc lành dài lâu) được xây dựng vào năm 1049 thời vua Lý Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lý Thái Tông đã cao tuổi mà chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa để cầu tự. Một đêm ông chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện lên đài hoa sen ở một hồ nước hình vuông phía tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai trao cho nhà vua. Ít lâu sau hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đã thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm.

     Chùa Một Cột là một Quốc tự, liên quan tới vua sáng lập triều Lý, được xây dựng gần khu vực Tử Cấm thành, hàng tháng cứ rằm, mồng một vua đến đặt lễ cầu phúc.

     Theo sử sách, chùa được xây lần thứ nhất năm 1049: "Mùa đông tháng 10 dựng chùa Diên Hựu. Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên toà sen, dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy vua nói với bề tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa đất, làm toà sen của phật Quan Âm như đã thấy ở trong mộng. Cho các nhà sư đi xung quanh tụng kinh cầu nhà vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (phúc lành dài lâu). Năm 1070 mùa xuân tháng giêng năm Thần Võ thứ 2, vua viết chữ Phật dài 1 trượng 6 thước khắc vào phiến đá".

     Lần xây dựng thứ hai vào năm 1105, vua tu bổ chùa Diên Hựu: "Mùa thu tháng 9 làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu... Bấy giờ vua chữa lại chùa đẹp hơn chùa cũ, đào hồ Liên Hoa Ðài gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ". Bích trì đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây Bảo Tháp. Trước khi vào chùa còn có một phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng (khoảng 26m) trước cổng chùa. Chùa là một cụm kiến trúc bề thế, có ý tưởng độc đáo và thẩm mỹ đẹp đã bị chiến tranh tàn phá, trở thành um tùm rậm rạp thời giặc Minh”.

     Thông qua nhiều tài liệu cổ cho biết chiếc cột thần kỳ cao tới 20m, trong đó có bia Sùng Diện Linh ở chùa Long Ðọi Nam Hà do Binh bộ thượng thư Nguyễn Công Bật viết đã mô tả và ghi chép tỷ mỷ việc xây tiếp chùa Một Cột: "Mở cửa chùa Diên Hựu tại vườn tây. Dấu vết theo quy mô thủa trước, lo toan Thánh ý ngày nay. Ðảo hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ trồi lên cột đá. Trên cột đá có một cánh hoa sen ngàn cánh xoè ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm. Trong đền đặt pho tượng sắc vàng, ngoài hồ có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại có hồ Bích Trì, bắc cầu cong đi lại, ở sân trước hai cầu bên tả hữu xây bảo tháp lưu ly...".

     Đây là một công trình kiến trúc sáng tạo kết hợp không gian kiến trúc có nhịp điệu cao thấp gồm điêu khắc đá, hội hoạ, chạm vẽ hành lang, mặt nước là biểu tượng văn hoá, nghệ thuật cao, tính dân tộc đậm nét. Chùa đã bị huỷ hoại, xây dựng lại nhỏ hơn so với nguyên mẫu, nhắc lại ở đây một thời đã có một cụm kiến trúc độc đáo.

 

Thiền viện Trúc Lâm - Đà Lạt

Thứ tư, 08/07/2009 - 03:53:pm

   Vị trí: Thiền viện Trúc Lâm tọa lạc bên hồ Tuyền Lâm trên núi Phượng Hoàng, thuộc phường 3 thành phố Ðà Lạt.

   
 
 
 
     Đặc điểm : Ðây là ngôi chùa to nhất, bề thế nhất ở Ðà Lạt hiện nay.

      Chùa do hòa thượng Thích Thanh Từ tạo dựng từ đầu thập niên 90, chính thức khởi công xây dựng ngày 08/04/1993 và khánh thành ngày 08/02/1994. Thiền viện có diện tích 24,5 ha; được chia thành 3 khu riêng biệt với sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh độc lập - nay là Dinh Thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh). 

      Những lúc đông nhất, thiền viện có hàng ngàn tăng ni, phật tử đến theo học về thiền. Đây là một thiền viện nghiên cứu về Thiền tông lớn nhất ở Việt Nam hiện nay với chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam (có từ đời nhà Trần). Mỗi ngày, các tu sĩ ngồi thiền 3 thời trong ngày, mỗi thời 2 giờ đồng hồ và thời đầu tiên là từ lúc 3 giờ sáng. 

      Ngoài ý nghĩa là một ngôi chùa lớn, một viện thiền học, Trúc Lâm còn là một điểm tham quan lý tưởng cho du khách khi đến với thành phố cao nguyên do được tổ chức tốt và có vị trí khá đẹp - nhìn ra hồ Tuyền Lâm, núi Voi. Ngoài ngôi chùa lớn này, Ðà Lạt còn có hàng chục chùa nhỏ khác như Linh Quang (đường Ngô Quyền), Trúc Lâm (đường Phạm Hồng Thái), Ngọc Tín (Sương Nguyệt Ánh)... mà khi kết hợp lại có thể cho du khách một tour du lịch tín ngưỡng - tìm hiểu kiến trúc độc đáo.
 
 
 
                                                                     

 

Sen hồng Hồ Tây

Thứ hai, 06/07/2009 - 02:22:pm

 

      Tháng 6, sen bắt đầu nở kéo dài đến giữa tháng 8, hương thơm ngát.

 

     Hiện nay diện tích trồng sen ở khu vực Hồ Tây không nhiều, chỉ còn lại vài đầm trong khu vực quanh Công viên nước Hồ Tây. Người trồng sen ngoài bán hoa còn mở thêm dịch vụ chèo thuyền hái sen, uống trà thưởng sen tại đầm cho khách có nhu cầu.

 

 

Nụ sen mới nhú.

 

 

Hoa sen.

 
 

 

Sen mới hái trong đầm.

 

 

 

Một bông hoa sắp tàn.

 

 

Đôi nét về chùa Vĩnh Nghiêm tại Sài Gòn

Thứ hai, 06/07/2009 - 09:06:am

     Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc tại số 339, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

     Chùa có diện tích xây cất ước lượng hơn 7.000 m2, trước đây là khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ, nên phải đổ 40.000m3 đất mới được như hiện nay.

     Chùa được khởi công xây dựng vào năm 1964, do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu, kỹ sư Bùi Văn Tố thiết kế và do ban kiến thiết miền Vĩnh Nghiêm điều hành thực hiện. Ðược sự đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa, Ðại Ðức Tăng, Ni và quý Phật tử nhất là các vị nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam, năm 1971, 3 công trình cơ bản đã được hoàn thành:

1/ Phật điện; 2/ Bảo tháp; 3/ cơ sở văn hóa xã hội.

     Hiện nay Hòa Thượng trụ trì tổ đình Vĩnh Nghiêm đang xin phép để xây cất tiếp 2 công trình còn lại:

- Phương trượng đường (Gồm Tổ đường và Tăng đường).

- Khách đường (gồm Thanh trai đường và các nhà phụ thuộc).

     Tổ đình Vĩnh Nghiêm hiện nay không những là nơi chiêm bái cho thiện nam tín nữ Phật tử mà còn là thắng cảnh tham quan của khách du lịch trong cũng như ngoài nước. Ðặc biệt, tổ đình Vĩnh Nghiêm còn là cơ sở của Trường Cơ bản Phật học, Thư viện Phật học Thành Phố Hồ Chí Minh, trú xú của 20 vị Tăng, Ni sinh miền Bắc đang theo học tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2. Hằng tuần, nơi đây đều có những buổi giảng kinh cũng như thọ Bát quan trai giới để hướng dẫn Phật tử trên con đường tu tập Thánh đạo.

      Chùa lấy tên một tổ đình lớn ở miền Bắc - chùa Vĩnh Nghiêm ở xã Ðức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Hà Bắc) - từng là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm một Thiền phái mang đậm nét dân tộc Việt Nam, đã tổng hợp những dòng thiền trước đó, đã tổ chức Giáo hội đầu tiên trong lịch sử PGVN, là mô hình Giáo hội đầu tiên cho các tổ chức Giáo hội sau này.

     Chùa Vĩnh Nghiêm Ðức La được kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ (1010- 1028), kiến trúc thuần túy Á Ðông, và đã được trùng tu nhiều lần. Cảnh trí tôn nghiêm, tráng lệ hiện nay là nhờ lần trùng tu cuối cùng, vào năm Thành Thái nguyên niên (1889), do Hòa Thượng Thích Thanh Hanh đảm trách.

     Hằng năm, vào ngày mùng 8-12 Âm Lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, vị có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20.

 


 

                                        

 

 

Những ngôi Chùa ở Huế .

Thứ sáu, 03/07/2009 - 10:31:am

    Chùa Huế        

 

 

Trước hết, ngôi chùa thường tọa lạc trong một vườn chùa, vườn rừng, dẫn dắt con người phải qua những xóm vắng, len lỏi qua các đồi thông (chùa Từ Hiếu), qua những hàng tre (Trúc Lâm, Trà Am, Hồng Ân, Kim Tiên) hoặc đơn giản chỉ bước lên một số bậc cấp (Từ Đàm, Thiên Mụ, Báo Quốc). Lối vào chùa dẫn đến tam quan ít đồ sộ mà thường thanh thoát, nhẹ nhàng. Cổng chính chỉ dành cho những ngày hội lễ đông đúc, còn hầu hết các chùa vẫn có những lối ngõ bình dị, quen thuộc vừa mang tính dân dã, đồng thời gợi nên ý niệm về nhiều pháp môn. Ngay giữa tam quan là trục chánh đạo dẫn vào tiền đường và chánh điện (thường gọi Đại Hùng Bửu điện, là ngôi nhà rường lớn, điện thờ ở ba gian giữa, hai chái làm phương trượng của sư Trụ trì hay giám tự), ngang qua khuôn sân ngoài của chùa. Sau chánh điện là mảnh sân trong vuông vức trồng hoa, cây cảnh; hai bên hai dãy thiền đường, tăng xá, nhà khách hay nhà chúng, có dạng chữ Môn (một số chùa theo chữ Khẩu). Nối liền với tăng xá là nhà hậu liêu, nhà trai, tịnh trù (nhà bếp). Hai bên và phía sau chùa là vườn chùa, thường trồng cây ăn trái. Ở đây thường xây dựng tháp mộ các tổ, vị trú trì và tăng chúng các đời (mộ táng theo khuôn hình chữ nhật, có bình phong tiền hậu, có nghi môn, phía trước là một bi đình hay mộ chí, giữa khuôn thành là một tháp lục giác hình nóc có 7 - 5 - 3 tầng tùy vào uy vọng của người quá cố). Sau vườn cây ăn trái, có thể là nơi canh tác, trồng hoa màu của chùa. Toàn cảnh chùa Huế cho thấy chất trầm mặc, quá khứ gắn liền với hiện tại, nơi thờ phụng gắn liền nơi sinh hoạt, tu học và cả mộ tháp các vị sư tiền bối.

 

Trong lịch sử, chùa Huế buổi khai sơn là từ những am tranh đơn sơ dạng nhà rường một gian hai chái và qua các thời kỳ, mới có dáng vẻ như hiện nay, nhất là từ phong trào Chấn hưng Phật giáo hồi đầu thế kỷ XX, nhiều thảo am được mở mang xây dựng bằng vật liệu mới giả gỗ, trở thành một dấu ấn đặc biệt ở chùa Huế. Chùa Huế chịu ảnh hưởng của kiến trúc cung đình lẫn dân gian (như trang trí tứ linh; tiếp thu lối cắt mái hai tầng, tạo dáng cổ lầu thanh thoát, nhẹ nhàng và vẫn có nơi giữ nguyên quy cách cũ với tầng mái liền, sâu và rộng, không tiền đường của mái đình dân gian...). Ngoài những nóc quyết trang trí kỹ, nội thất chùa Huế bình dị, màu sắc không sặc sỡ mà ấm cúng, uy nghiêm.

 

Trong một không gian vừa có chiều sâu, vừa có chiều cao, nội điện được thiết trí ba gian thờ với từng án trong cao ngoài thấp: án trên cùng gian giữa tôn trí tượng Phật Tam thế (A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc); gian tả thiết tượng Quan Thánh, có Quan Thái tử và Châu Đại tướng đứng đầu, kèm thêm tượng gỗ ngựa Xích Thố và thanh long đao; gian hữu tôn trí tượng Thánh Mẫu Thiên Y A Na có ngọc nữ đứng hầu. Cả hai gian tả hữu đều có án tả hữu tòng tự để tôn trí tượng Thập Điện Minh vương, tượng Thập Bát La Hán và hai tượng Hộ pháp. Đây là cách thờ tự truyền thống, thể hiện rõ tính Phật giáo đại chúng và quan niệm Tam giáo đồng nguyên. Mặt sau nội điện, các chùa thường thiết trí án thờ tổ, bao gồm long vị các tổ và tăng chúng quá cố. Ở các chùa còn có án thờ những người có công đức và vong linh được ký thác cho chùa.

 

Trong cơ cấu hệ thống cơ sở tâm linh hoàn chỉnh của một cộng đồng, không thể tách rời đình, chùa khỏi miếu vũ: miếu thành hoàng, miếu khai canh khai khẩn, miếu Văn Thánh, miếu Võ Thánh (ở cấp độ làng), miếu xóm, miếu cô hồn (cấp độ xóm),... Vị trí tọa lạc của các miếu thành hoàng, khai canh, khai khẩn tùy thuộc vào thần tích truyền lại; còn các miếu của xóm, thường nằm ở vị trí uy nghiêm, đầu hoặc cuối xóm. Quy mô của miếu tùy thuộc vào vị thế của làng, của xóm, có khi chỉ là một bệ đá đặt bát hương, có nơi được xây cất một gian hai chái và cả nhà rường ba gian hai chái, như miếu thành hoàng làng Thế Lại (nằm trên đường Bạch Đằng, thuộc phường Phú Hiệp) là nơi thờ thần khai canh Hồ Đại Tướng quân và các vị tiền hiền khai khẩn, miếu của làng có quy mô lớn với dạng nhà rường ba gian hai chái, 36 cột; nội thất ba gian giữa đặt kín các khám thờ, án thờ, kiệu, lỗ bộ... Nghi lễ cúng tế ở các miếu thường theo lệ tế của làng là Xuân Thu nhị kỳ, tảo mộ.

 

Ngoài ra, ở Huế còn có hệ thống miếu vũ của kinh đô xưa như đàn Nam Giao (tế trời), đàn Xã Tắc (tế thần Lúa, thần Đất), Văn Miếu (thờ Khổng Tử và ghi danh bia đá các vị tiến sỹ), Võ Miếu, Triệu Miếu (thờ thân phụ chúa Tiên là Nguyễn Kim), Thái Miếu (thờ các chúa Nguyễn), Thế Miếu (thờ các vua Nguyễn), điện Hòn Chén (thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na)...

 

Hệ thống đình, chùa, miếu vũ phong phú cả về quy mô, loại hình kiến trúc lẫn ý nghĩa thể hiện, phản ánh sinh động đời sống tinh thần nhiều mặt, đậm tính nhân văn của người dân nơi đây.

 

- Hoa Sen và nét Văn Hoá của người Việt.

Thứ năm, 02/07/2009 - 03:42:pm

     

Hoa Sen có vai trò và vị trí đặc biệt cả về tâm linh và văn hóa của người Việt. Từ bao đời nay, Hoa sen đã đi vào lòng người, đi vào cuộc sống và văn hoá của người Việt. Ngắm hoa sen chúng ta có thể thấy và nhận ra hình ảnh con người Việt Nam
Mặc dù sinh ra trong bùn lầy nhưng hoa sen không bị ô nhiễm mà lại có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh sống, vì hoa sen hễ mọc ở nơi nào thì sẽ làm cho nước đục nơi đó lắng trong. Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Sắc sen kín đáo, đằm thắm, cánh trắng phớt hồng, nhụy vàng. Từ khi nở đến khi tàn không hề bị ong bướm bén mảng tới. Qua bao ràng buộc để đến được chỗ khoáng đạt hư không, sen tiếp tục vươn lên dưới ánh mặt trời, khai nụ kết hoa, khoe sắc và xông hương tràn ngập không gian.
Sự hình thành của sen diễn ra theo qui luật nhân quả luân hồi. Sen có cả nụ - hoa - hạt. Hoa nở tượng trưng cho quá khứ, đài sen tượng trưng cho hiện tại và hạt sen tượng trưng cho tương lai, sự nối tiếp liên tục. Vì vậy,  hoa sen trở thành biểu tượng trong nghệ thuật Phật giáo của Phương Đông. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp thần bí, huyền ảo, tư tưởng sâu kín. Bông hoa sen cũng tượng trưng cho sự thanh cao, bất khuất của người quân tử, giữ chặt lòng mình trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho mình sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn nhơ
Từ ý nghĩa tâm linh ấy, bông hoa này đã đi vào tâm thức của  người Việt Nam, trở thành hình tượng trong kiến trúc và điêu khắc của người Việt xưa, trong nghệ thuật, trong văn học, ẩm thực…
Cho đến tận hôm nay, khi bạn bè quốc tế đến với Việt Nam thì hình ảnh đầu tiên họ gặp là  bông sen vàng trên những chuyến bay của Vietnamairline,  hình ảnh biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ; vừa đời thường lại vừa cao quý, linh thiêng; vừa duyên dáng, mềm mại, nhưng không kém phần cứng cáp, đĩnh đạc, tượng trưng cho những con  người Việt Nam dũng cảm kiên cường nhưng đôn hậu và cởi mở.
Biểu tượng Hoa sen trên Trang tin điện tử Bộ Văn hoá – Thông tin (Cinet) - kênh thông tin tuyên truyền chính thức về văn hoá Việt Nam -  cũng chính là để thêm một lần khẳng định:  “Hoa sen – Con người Việt, Tâm hồn Việt, Văn hoá Việt”.
 
1. Hình tượng hoa sen trong văn học nghệ thuật
Khi nói đến Sen, Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng thuộc câu ca dao:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Khi xưa, Mạc Đĩnh Chi khi đứng trước vua Trần Anh Tông  đã thể hiện rõ phẩm chất của mình qua bài phú “Ngọc tỉnh liên” (Hoa sen trong giếng ngọc): Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức…”
Làng quê nơi Bác sinh ra cũng có tên là Làng Sen, và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta:

"Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ"
...
2. Hoa sen trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
 
Ở Việt Nam, đề tài hoa sen xuất hiện khá sớm trong nghệ thuật tạo hình, hầu như ở thời nào cũng được các nghệ nhân thể hiện trong các đồ án trang trí của nơi thờ tự hoặc ở các công trình văn hóa của cộng đồng. Sen được khai thác, phản ánh dưới nhiều góc độ bố cục khác nhau, xuất hiện hằng xuyên theo chiều dài của lịch sử dân tộc qua những công trình kiến trúc.
  Hoa sen trong mỹ thuật thời Đinh - Tiền Lê
Trên một số viên gạch lát nền cỡ lớn tại khu vực đền vua Đinh và đền vua Lê, ngoài đề tài trang trí chim phượng còn có đề tài hoa sen. Đồ án về các hoa sen ở đây gồm 4 loại.
Loại hoa sen có 16 cánh thường được thể hiện nổi trên các viên gạch vuông cỡ lớn. Nhìn chính diện (từ trên xuống), họa tiết được bố cục chung dưới dạng một mặt tròn nằm giữa viên gạch, gồm 3 lớp. Lớp ngoài cùng là 16 cánh sen xếp đều nhau kết thành một vành tròn đều đặn. Lớp giữa gồm những vân xoắn đơn được xếp cùng chiều, nối lưng nhau thành một vành tròn thứ hai, có lẽ thể hiện nhụy hoa. Lớp trong cùng là một hình tròn điểm 13 chấm nổi, thể hiện hình gương sen với các hạt. Mười ba hạt sen được sắp xếp thành các cạnh từ trung tâm chạy ra 8 phía, cân đối, đều đặn. Các cánh sen không chạm thêm chi tiết gì ngoài một đường gờ nhỏ viền theo chu vi của cánh. Loại đồ án hoa sen 16 cánh này còn gặp nhiều ở thời kỳ sau, ở các tảng đá kê chân cột cho nên phần giữa và phần nhị hoa không chạm khắc gì và nó có nhiều nét tương đồng với các đồ án trang trí ở Trung Quốc và Nhật Bản.
Loại hoa sen 14 cánh được trang trí trên một đài sen bằng đất nung, cao xấp xỉ 10,5cm. Đài sen hình tròn, trang trí một hình hoa 14 cánh ở giữa và bao quanh sen là đồ án hoa cúc dây và một băng các chấm tròn. Trong trường hợp này, sen cũng bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống, được chia thành 3 lớp như kiểu hoa sen 16 cánh. Lớp thứ hai làm nhụy hoa ở đây rất hẹp, các nhụy được thể hiện như những đường gạch chéo nhỏ. Lớp trong cùng (gương sen) đã có số ụ tròn (thể hiện hạt sen) nhiều tới 21 hạt, gồm một hạt tương đối to ở giữa và 20 hạt nhỏ bao quanh thành 2 vòng (vòng trong 8 và ở vòng ngoài là 12). Đồ án này khắc họa khá tỉ mỉ. Các hạt sen ở giữa đều được thể hiện kép bằng 2 vòng tròn đồng tâm còn trong lòng các cánh sen không những có gờ viền quanh mà còn điểm cả vân lá. Phía ngoài hoa sen là một băng hoa dây mảnh kiểu dây leo tay mướp (có nhiều vào các thời sau). Ngoài cùng là những hình chấm tròn to, mỗi chấm được bao quanh bằng hai đường tròn đồng tâm như kiểu các hạt sen ở giữa.
Loại hoa sen 8 cánh cũng được thể hiện theo lối nhìn chính diện từ trên xuống. Ngoài 8 cánh chính, có 8 cánh phụ ken giữa từng cặp cánh chính. Họa tiết này được trang trí trên mặt hai loại gạch, một có dạng vuông, cỡ 34 x 34cm và một có dạng hình chữ nhật, cỡ 74cm x 34cm. Loại gạch vuông hoa sen bố cục ở giữa, còn loại chữ nhật thì người ta phân đôi viên gạch, hai hoa sen trang trí hai phía. Hoa sen cánh to và ngắn, trong lòng cánh có đường viền. Phần hình tròn thể hiện gương sen ở giữa, với 9 chấm tròn thể hiện hình ảnh của các hạt sen được bố cục với một hạt to ở giữa và 8 hạt nhỏ hơn phân đều ra các phía thành một vòng tròn. Đáng chú ý là giữa cánh sen và gương sen không có lớp nhụy sen như hai đồ án trên mà chỉ là một băng để trơn.
Loại hoa sen số cánh không cố định khá đa dạng, được trang trí ở đầu các ngói ống giọt gianh. Có loại cánh sen thon dài, mũ sen vát; có loại nhỏ, ngắn; có loại to mập; có loại dài có đường gờ xen giữa hai cánh. Số lượng cánh cũng không cố định, có loại 7 cánh , có loại 8, 9 cánh, tất cả đều cách điệu đơn giản, chỉ có cánh sen và đài gương. Có khi đài gương cũng không có hạt sen.
4 loại đồ án hoa sen trên là những đồ án khá đẹp, chứng tỏ tuy các thời Đinh - Tiền Lê ngắn ngủi nhưng cũng đã sáng tạo ra những sản phẩm có dấu ấn đặc trưng trong lịch sử mỹ thuật nước nhà.
  Hoa sen trong mỹ thuật thời Lý
Đây là thời kỳ mà Phật giáo phát triển mạnh, được coi như quốc giáo và trang trí hoa sen được ứng dụng rất nhiều với các đài hoa sen, các bệ tượng Phật bằng hoa sen, các kiến trúc hình hoa sen. Những tảng đá kê chân cột cho đến diềm cửa tháp, diềm bệ tượng và cả đồ gốm... hễ đâu có điều kiện thích hợp là nghệ nhân dùng ngay hoa sen để trang trí. Đặc biệt các công trình liên quan đến Phật giáo thì đề tài hoa sen càng được sử dụng nhiều.
Loại đồ án hình hoa sen đỡ chân cột: Do yêu cầu chống mối mọt và ẩm thấp nên các chân cột đều được kê đá. Tận dụng điều đó, các nghệ nhân đã trang trí các cánh sen viền quanh, tạo cảm giác như toàn bộ ngôi chùa được dựng trên các đóa hoa sen. Hoa sen chân cột có phần giống với hoa sen trên các viên gạch ở thời Đinh - Lê, được bố cục các cánh thành một vòng tròn theo kiểu nhìn chính diện từ trên xuống. Hoa bao gồm 16 cánh chính và 16 cánh phụ. Điều khác nhau là các đồ án này của thời Lý không thể hiện phần nhị sen và gương sen, có lẽ vì cột che khuất. Đáng chú ý là lòng của các cánh sen thời Lý ở các di tích liên quan tới vua, thường được chạm thêm đôi rồng dâng chầu lá đề. Nét chạm tỉ mỉ tinh tế, tôn thêm vẻ cao quý của cánh sen. Loại đồ án này còn thấy trên một số đồ gốm men ngọc thời này.
Loại đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng, là hình các đài sen trong tư thế nhìn nghiêng, như đài sen làm bệ đỡ cho các chân chim phượng, trong các đồ án phượng múa ở các thành bậc (ở chùa bà Tấm, Hà Nội), hoa sen làm bệ đỡ cho các vật thiêng bố cục trong hình lá đề, hoặc trong các đồ án dàn nhạc, thiên thần, về rồng chầu (ở chùa Phật Tích)... Trong đó các đài sen thường đỡ các lá đề.
Loại đồ án hoa văn hoa sen kết hợp hoa dây và hoa thiêng khác thành băng dọc ở diềm cửa tháp hay ở bệ tượng, nay còn thấy ở di tích chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn. Nghệ nhân bố cục thay đổi một hoa sen lại đến một hoa cúc, được thể hiện trong những vòng tròn của hoa dây. Cả vòng tròn này lại gần như tiếp tuyến nhau và chỗ gặp nhau là hình các thiên thần nhỏ bé đang trong động tác múa. Những hoa dây ở đây mang tính chất ước lệ, trên thực tế lá sen, lá cúc đã cách điệu khác hẳn thực tế. Bố cục của đồ án hoa sen trong các trường hợp này thường theo kiểu nhìn nghiêng hơi chếch để thấy cả gương sen với hạt sen. Các cánh sen cũng chia làm hai lớp như loại đồ án đài sen đỡ vật thiêng, nhưng lớp dưới của nó vừa làm đài đỡ vừa biến thành một vòng tròn ôm trọn lấy cả phần trên của gương sen. Tuy cách điệu khá cao nhưng đồ án hoa văn sen này được xếp vào loại có bố cục chuẩn nhất, cân đối và đơn giản trong đường nét mà vẫn mô tả được cái dáng vẻ riêng của hoa sen.
Loại đồ án hoa sen trên gốm men ngọc được trang trí trong lòng một chiếc bát men ngọc (hiện vật trưng bày của Bảo tàng lịch sử Hà Nội). Bát vào loại nhỏ, có màu men ngà hơi chuyển sang màu vàng nâu sẫm. Nghệ nhân gốm khắc chìm hình hoa văn lên đất, sau đó tráng men và đem nung. Đó cũng là kỹ thuật phổ biến của các đồ gốm men ngọc thời Lý. Các hoa sen được thể hiện theo lối nhìn nghiêng, trang trí ở trong lòng bát. Cuống hoa quay vào tâm bát, cứ một bông hoa sen lại một bông hoa cúc, chúng hoàn toàn độc lập với nhau. Tổng cộng có 3 hoa sen và 3 hoa cúc. Hoa sen gồm nhiều cánh, nở rộng ra 2 phía với bố cục tuân thủ sự cân xứng trong toàn bộ đồ án trang trí.
  Hoa sen trong mỹ thuật thời Trần
Sang thời Trần, đề tài hoa sen vẫn được kế tục khai thác như trong tạo hình thời Lý. Đáng chú ý, trên một số gốm hoa nâu thời này xuất hiện các đồ án hoa sen với phong cách hiện thực sinh động. Một điều duy nhất để phân biệt là: các hoa văn trong lòng cánh sen thời Lý đôi khi có hình rồng, hoặc hoa dây, mà thời Trần hoàn toàn không có. Cánh sen thời Trần thường chỉ chạm thêm một đường gờ chìm viền theo mép cánh và ở trung tâm mỗi cánh đôi khi được điểm các hạt tròn trong một bố cục cân xứng khá chặt chẽ.

Đài Sen thế kỷ 11-12

Đồ án hoa sen đỡ các vật thiêng thời Trần khá phong phú như đồ án đỡ chân chim phượng trên trán bia chùa Tổng (Hưng Yên), đỡ các hình lá đề trong đồ án ở chùa Thái Lạc, chùa Dâu (Bắc Ninh), ở các chân cột, cốn, nhất là ở cửa chùa Thái Lạc, đài sen đỡ phía dưới các tượng phỗng, một đề tài chuẩn của thời kỳ này. Trên các bệ tượng Phật của thời Trần đều chạm thành những đài sen lớn. Cánh sen có 2 hoặc ba lớp, xen kẽ nhau, thể hiện thành những khối nổi, không còn chỉ là hoa văn nữa. Tuy nhiên cũng có những bệ lớp phía dưới cùng lại chỉ chạm nông thành một viền hoa văn trang trí, các cánh sen được chạm nối tiếp nhau vòng quanh bệ, hình thức thường to khoẻ, chen khít dăng thành hàng dài nhiều khi thì bố cục nghiêng mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là cánh sen vẹo. Trong lòng các cánh sen thường chạm thêm những hình hoa kết hợp bởi các ô tròn.
Đồ án hoa sen cách điệu thành hoa dây được sử dụng khá nhiều trên kiến trúc của chùa Thái Lạc. Và có lẽ đây cũng là ngôi chùa duy nhất có đồ án trang trí này. Hoa sen chạy dài phía dưới đôi rồng đang trịnh trọng dâng chầu lá đề, hay uốn lượn phía trên các “tầng mây”, nơi có hình các tiên nữ đầu người mình chim đang vừa múa vừa dâng hoa.
Hoa văn hoa sen trên gốm hoa nâu: Gốm hoa nâu được ra đời vào cuối thời Lý và phát triển mạnh ở thời Trần, gồm nhiều loại, kiểu dáng khác nhau. Có loại to như chậu, ang, thạp. Có loại nhỏ như bát, đĩa, liễn,... Hiện vật ngày nay còn lại ở một số bảo tàng như Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Mỹ thuật hoặc các bảo tàng địa phương ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Tây.v.v... Một số khác nằm ở các sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Trên các đồ gốm này thường được chia thành ô hoặc thành băng để trang trí bằng cách dùng bút vẽ lên xương đất, sau đó tráng men và kẻ vạch rồi mới đem nung. Đề tài trang trí gồm nhiều loại mà trong đó hoa sen chiếm số lượng lớn. Hoa văn hoa sen có loại đơn giản, chỉ vẽ vạch mấy nét mà thành, như trường hợp một chiếc âu trong sưu tập của Bảo tàng quốc gia Bỉ, phần lớn chúng được vẽ theo lối nhìn nghiêng... Từ một cuống hoa ở dưới vươn lên rồi tiếp đến các cánh hoa đổ ra hai phía bọc quanh một đài gương ở giữa. Hai cánh trên cùng đang ôm lấy gương sen, hai cánh tiếp nở vươn rộng ra hai bên và hai cánh dưới cùng đổ xuống phía dưới. Đơn giản như vậy nhưng vì các cánh sen này không bị gò bó trong một khuôn mẫu đăng đối nào nên trông rất sinh động. Nét bút của nghệ nhân ở đây tung hoành thoải mái. Khi thì nhấn mạnh tạo một mảng đậm cho một cánh sen, lúc lại nâng cao lướt nhẹ mô tả một chi tiết của cuống hoa hay của búp sen. Mỗi ô một hoa, mỗi hoa một kiểu dáng, thường đứng riêng lẻ một mình hoặc kết hợp với một vài cây cỏ và búp sen. Đặc biệt có đồ án trên một chiếc tháp gốm của Bảo tàng Hải Dương, nghệ nhân còn vẽ thêm nhiều búp sen và lá sen nhiều kiểu dáng, có lá bố cục theo lối nhìn chính diện từ trên xuống thành cả mảng tròn to, thấy rõ cả chi tiết các gân lá. Ở một liễn men nâu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội, hoa sen lại bố cục thành hoa dây uốn lượn cong tròn đều. Cứ mỗi ô trống là một hoa sen, bố cục theo lối nhìn nghiêng, cánh hoa đổ ra hai phía như ở các đồ gốm hoa nâu khác. Dây hoa này có nhiều lá, có lá như một cánh sen, có lá lại giống lá của hoa cúc trông rất sinh động.
  Hoa sen trong mỹ thuật thời Lê sơ
Vào thời Lê sơ, đạo Phật bị hạn chế, các chùa tháp không phát triển, nhưng hoa sen vẫn là loại đề tài được chú ý nhiều. Hoa sen không những được trang trí trên các bệ tượng Phật, trên các chân tảng cột chùa mà còn ở các thành bậc cung điện của triều đình và trên cả các bia tiến sĩ ở Văn Miếu.
Đồ án hoa sen ở mặt ngoài thành bậc các cung điện như ở bậc điện Kính Thiên (Hà Nội), điện Lam Kinh (Thanh Hóa), Văn Miếu (Hà Nội). Mặc dù dưới hình thức cuộn vòng của hoa dây, nhưng trung tâm vẫn là bông hoa sen. Hoa sen thể hiện theo kiểu nhìn nghiêng, thấy rõ cả từng lớp của hoa. Trong cùng là một búp hoa còn xếp kín chưa nở. Tiếp đó là các lớp cánh sen toả đều ra hai bên như bố cục hình nan quạt. Vì được cách điệu cao nên ở đây khó nhận ra các cánh sen quen thuộc.
Ở thành bậc điện Lam Kinh đồ án hoa sen cũng giống như ở thành bậc điện Kính Thiên. Đáng chú ý là có một số đồ án ở giữa không phải là chùm cánh, mà lại là cả một đài sen tạo thành một mảng to như hình lá sen, còn ở giữa là các hình xoắn cách điệu. Trên thành bậc cửa Văn Miếu (Hà Nội), các cánh sen vẫn thể hiện theo lối vân xoắn, gương sen ở giữa vẫn chạm lối nhìn nghiêng. Rõ ràng cả hoa sen của 3 thành bậc đều có chung một phong cánh thể hiện. Đó là lối vân xoắn cách điệu cao, đường nét chạm rành mạch sắc nét.
Đồ án hoa sen ở diềm bia: Một số bia thời Lê sơ như các bia tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội - 1484), bia chùa Cao (Hà Tây - 1505)... đều có trang trí hình hoa sen xen lẫn các hoa khác. Bố cục hoa sen theo kiểu nhìn nghiêng, còn các cánh hoa thì phần lớn đang chụm lại che kín đài gương, ở trên là 3 lớp cánh đang xếp sát nhau, phía dưới cũng có 3 cánh nhỏ đã nở rộng. Đó là trường hợp hoa sen diềm bia chùa Cao. Còn ở diềm bia Văn Miếu bố cục cũng như vậy nhưng có phần đơn giản hơn. Ở giữa là hai cánh sen ôm lấy đài gương, phía ngoài có 5 cánh nở đều ra các phía, giống hoa sen bệ chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh - thế kỷ XVII)
Bộ Tam Thế chùa Khám Lạng
Hoa sen trên bệ tượng Phật: Các bệ tượng Phật thời Lê sơ, như bệ các chùa Khám Lạng (Bắc Giang - 1432), chùa Cao (Hà Tây-1505)... đều có trang trí cánh sen . Kiểu cách và chi tiết của các hoa văn này gần giống với các cánh sen trên các bệ thời Trần. Đặc biệt ở chùa Khám Lạng, ngoài các cánh sen to, còn có lớp cánh sen được chạm theo kiểu xếp gối lên nhau chỉ thấy nửa hình, cứ thế mà thành băng dài. Lối bố cục gối lên nhau này cũng đã thấy có ở thời Trần. Ở chùa Cung Kiệm, dưới chân bệ đá của tượng Phật niên đại 1449, còn thể hiện một đóa hoa sen nổi trên sóng nước, chạm theo lối nhìn hơi chếch nghiêng, các cánh sen nở vây quanh một búp sen ở giữa, lá phía ngoài hình sóng, bố cục đơn giải, ít chi tiết.
 
 
Hình tượng hoa sen trong nghệ thuật tạo hình Việt là một đề tài rất phong phú, được thể hiện ở rất nhiều các hình thức trang trí mỹ thuật và kiến trúc đặc trưng riêng cho mỗi thời kỳ lịch sử dân tộc. Nó không chỉ mang lại giá trị vật chất cho cuộc sống, mà còn mang giá trị tinh thần vô giá với người Việt. Chính vì vậy hình tượng hoa sen không chỉ là cảm hứng sáng tác của các nghệ nhân xưa, mà ngày nay các họa sĩ hiện đại vẫn có nhiều tác phẩm thành công với đề tài hoa sen, qua nhiều cách nhìn và ngôn ngữ tạo hình khác nhau, nhưng đều biểu đạt được giá trị thẩm mỹ vĩnh hằng của loài hoa đã thấm sâu vào tâm hồn dân tộc Việt.
   3. Hoa sen trong văn hoá ẩm thực Việt Nam:
Từ ảnh hưởng của hoa sen trong đời sống tinh thần mà người dân Việt Nam đã đưa sen lên đỉnh cao của văn hóa ẩm thực.
Các bộ phận trên bông hoa sen được biến chế thành những món ăn đặc trưng, mang đậm một hương vị Việt Nam như gỏi ngó sen, mứt sen, trà sen. Sen hồ Tịnh Tâm của Cố đô Huế ngày xưa được dùng để ướp trà cho vua. Người ta ướp trà vào ban đêm. Khi sen vừa hé nhụy là lúc trời đất đang giao hoà, hương còn rất đượm. Trà được đặt vào trong lòng hoa rồi dùng dây buộc lại, ép không cho hoa nở ra, để qua hết đêm trà sẽ hấp thụ toàn bộ hương sen.  Sáng hôm sau thì thu trà, trà sen Huế vì thế có hương thơm thanh khiết và đậm đà đến say lòng.   
Chè sen Huế với hạt sen  tươi, bóc vỏ, lột lớp lụa mỏng, xoi tim rồi đem chưng cách thủy, chưng với đường phèn thì hương mới thơm. Chè sen được múc trong bát cổ men sứ màu xanh nhỏ như “mắt trâu”, chỉ độ dăm bảy hạt sen vàng nở lươm tươm. Trong các dịp lễ tết hay kỵ giỗ, chè sen là món quan trọng gần như không thể thiếu trong lễ phẩm. Cúng xong, chỉ một bát thôi là đã thưởng thức đủ cái “quốc hồn quốc túy” của xứ Huế rồi!
Ngoài ra, người Huế  còn dùng  sen để nấu cơm sen rất nổi tiếng trong các món ăn truyền thống Huế. Cách nấu cơm sen cũng hết sức cầu kỳ, chỉ có những người phụ nữ Huế thực thụ tính tình điềm đạm có bản sắc “tôn nữ” mới nấu được cơm sen. Trong những món ăn “bát bửu”, cơm sen xuất hiện với một phong cách rất Huế. Những ai muốn thưởng thức món cơm sen Huế hãy đến cố đô vào mùa sen nở. Ngoài ra, còn có nhiều món ăn thượng vị từ sen Huế mang nhiều hương sắc và hương vị đậm đà.
Còn một nét đặc biệt nữa là người miền Bắc thường dùng dùng lá sen để gói cốm. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với hương đồng cỏ nội. Những hạt cốm xanh màu ngọc thạch trở nên dẻo và thơm lâu hơn khi nằm trong lòng chiếc lá sen tươi.  Hương thơm dìu dịu của lá sen hoà quyện với hương cốm. Thật là một sự kết hợp hài hòa tuyệt vời mà bất cứ ai đã thưởng thức còn nhớ mãi.

 
 
    Blog Trên Yume
    • Blog Nổi Bật
    • Blog Yêu Thích
    • Blog Mới