4tnv_2006 chưa có bài viết yêu thích
Tổng số bài viết: 6
Sắp xếp theo: Hiển thị:
Thứ hai, 14/09/2009 - 02:26:pm
Chủ nhật, 05/07/2009 - 09:10:am
sưu tầm
Có câu chuyện kể rằng khi sáng tạo ra thế giới Thượng đế đã dạy cho mọi vật cách duy trì nòi giống. Với con người, Thượng đế đem một người đàn ông và người đàn bà tới cánh đồng và nói: 'Các ngươi hãy sống và phát triển giống nòi, một năm sau ta sẽ quay trở lại'.
White Cat
Một năm trôi qua, Thượng đế trở lại vào lúc rạng đông, Ngài thấy người đàn ông và người đàn bà ngồi trước ngôi nhà tranh, quanh họ là đồng lúa chín vàng, cạnh họ là chiếc nôi có đứa trẻ đang ngủ. Họ nhìn nhau trong ánh mắt ngời lên vẻ đẹp mà Ngài chưa từng thấy bao giờ, vẻ đẹp lung linh hơn cả bầu trời, êm ả hơn làn gió, ấm áp hơn cả vầng dương. Ngài run lên vì xúc động:
- Ta tạo ra thế giới nhưng chưa từng tạo ra vẻ đẹp đó, nó sinh ra từ đâu nhỉ?
- Thưa Thượng đế, vẻ đẹp ấy chính là tình yêu đấy ạ.
- Tình yêu là cái gì vậy? - Ngài tiến lại gần con người khẩn khoản: Con người hãy dạy ta yêu đi.

Con người thậm chí không nhận ra Thượng đế đang đặt tay lên vai họ. Họ mải mê nhìn vào mắt nhau.
- Con người kia, các người không muốn dạy ta yêu ư? Vậy thì các người sẽ phải già đi, mỗi giây sẽ lấy đi của nhà ngươi tuổi trẻ và sức lực, để xem 50 năm nữa còn lại gì. Thượng đế thét lên.
Đúng như lời hẹn 50 năm sau Thượng đế quay trở lại. Căn nhà tranh đã được thay thế bằng nhà gỗ, trên cánh đồng trai gái say sưa làm việc và hát ca, bày trẻ ríu rít nô đùa. Trên bậc thềm hai cụ già ngồi sát bên nhau, khi thì nhìn lên bầu trời, khi thì nhìn vào mắt nhau trìu mến. Thượng đế không phải chỉ nhìn thấy tình yêu mà Ngài còn nhìn thấy cả lòng chung thủy. Thượng đế giận dữ: "Tuổi già không trùng phạt được các ngươi sao? Vậy thì các ngươi sẽ phải chết, thân xác bị vùi dưới đất, thịt da sẽ mục nát. Bấy giờ ta xem còn lại gi trong mắt các ngươi".
Vài năm qua đi, Thượng đế đến thật. Ngài thấy cụ ông ngồi bên một nấm đất. Dưới đó cụ bà đang yên nghỉ. Đôi mắt ông cụ u buồn song khoé mắt ánh lên tia sáng không chỉ của tình yêu, của lòng chung thủy mà còn có cả sự hoài niệm quá khứ. Ngài đến sát cạnh ông cụ: "Con người, ngươi cứ giữ lấy tuổi thanh xuân cùng sức mạnh. Ngươi xin gì ta cũng đồng ý. Hãy nhường ta tình yêu đi".
Ông cụ đáp: "Kẻ hạ thần không thể làm vừa lòng Ngài được. Hạ thần không muốn đổi lấy những ân huệ đó. Tất cả không thể so sánh được với tình yêu. Giá của tình yêu quá đắt. Nó chỉ có thể trả giá bằng cái chết mà Ngài thì lại bất tử".
Thượng đế đứng đậy lặng lẽ bỏ đi.
***
Em chẳng biết làm sao để anh hiểu giá trị của tình yêu, em càng không muốn để đến khi chết rồi, ngồi khóc bên nấm mộ mới nhận ra tình yêu đáng giá. Em lại càng không muốn con người sẽ mất đi tình yêu vì thế em đã chạy theo nài nỉ Thượng đế hỏi xem Ngài đã đi đâu sau khi cuộc thương thuyết đổi tình yêu lấy cuộc sống bất tử với ông cụ không thành. Thượng đế không trả lời chỉ mỉm cười đầy ẩn ý như muốn nói cuộc sống sẽ không đơn giản như vậy nữa đâu.
Chẳng ai biết Ngài đi đâu, nhưng em đoán rằng Thượng đế đi tạo thêm Phản bội, Ích kỷ, Dối trá và Nghi ngờ. Bởi vì Thượng đế nhận thấy ông cụ đang sống trong thời kỳ sơ khai của loài người. Lúc này con Người còn hồn nhiên và đơn giản lắm. Con người sẽ tiếp tục phát triển và tự phức tạp hoá cuộc sống của mình, vậy nên phải có những khó khăn tương ứng để thử thách tình yêu.
Ngài phải xem trong thời hiện đại, con người giữ gìn nuôi dưỡng tình yêu bằng cách nào. Có thể ngài sẽ nghĩ ra cái gì đó hay ho hơn để thương lượng.
Chứ bây giờ hơn ai hết Ngài biết ông cụ nói đúng: Giá của tình yêu quá đắt. Nó chỉ có thể trả giá bằng cái chết mà Ngài thì lại bất tử.
Chủ nhật, 05/07/2009 - 08:48:am
Nếu lỡ mình chỉ còn sống được một ngày thì sao nhỉ? Có nhiều điều mình phải làm. Hai mươi tư giờ mình sẽ chia thật đều: sáu giờ cho bạn bè, sáu giờ cho gia đình, sáu giờ cho người ấy và sáu giờ cho bản thân.
Nhiều khi nghĩ bản thân mình nhận được gì từ mọi người và mình làm được gì cho mọi người hay chưa? Mình sẽ làm thật nhiều cho những người mình yêu thương. Dù điều đó không lớn, không quan trọng nhưng mình hi vọng những người mình yêu mến sẽ cảm thấy điều đó quý giá. Mình chỉ mong em đến bên mình, nắm tay mình, ôm mình vào lòng và yêu mình bằng cả trái tim. Để mai kia lỡ mình không còn bên em nữa, lỡ tai mình không còn nghe được giọng của em, lỡ mắt mình không còn được nhìn thấy em và tim mình không còn được đập chung nhịp với em thì mình cũng không hối tiếc vì được bên ưm lần cuối. Một ngày! Chỉ đủ cho mình nhìn thấy em, đủ cho mình nói câu "tôi yêu em" với em. Dù chỉ một ngày nhưng là một ngày ý nghĩa thì một ngày đó mình sống đâu có lãng phí phải không em? Mình ước giây phút này lặng mãi để tim được bình yên, mình được phép nhớ về em. Mình thích cách em cười và nhìn mình nó khiến tim mình ấm áp. Mình không tìm thấy cảm giác đó ở những người xung quanh. Mình yêu em đơn giản vì em khiến mình hạnh phúc. Vui lên em nhé! Ấm áp và không còn u tối nữa. Nếu chỉ còn một ngày để sống, tôi sẽ nói với em "tôi yêu em vô hạn", dù rằng em sắp có gia đình và giữa chúng ta từ đầu tới cuối vẫn chỉ là bạn. Dù thế nào đi nữa thì tôi cũng rất yêu em, người bạn tâm đầu của tôi.
Minh Huy
Chủ nhật, 05/07/2009 - 08:43:am
Với anh em là gì vậy anh? Em không biết anh đang nghĩ gì nữa. Đôi lúc anh làm em nghĩ anh quan tâm đến em nhưng có lúc anh lại thật hờ hững và xa cách vô cùng.Trong trái tim anh có em không anh ? Anh có biết thương một người mà không biết người kia thế nào thì mệt mỏi lắm không?
Em không hiểu gì hết anh àh. Em chỉ hiểu một điều em đã thương anh nhiều hơn anh thương em rồi. Mà có thực anh thương em không nhỉ hay đó chỉ là em ảo tưởng, buồn cười thât. Đôi lúc em nghĩ khi thương một ai đó chắc người ta sẽ không như anh đâu. Nếu thương em thật thì anh đã rất quan tâm đến em rồi, không như bây giờ là bỏ mặc em không nhắn tin không gọi điện hỏi thăm gì cả. Nếu thương em anh đã không để em phải khóc vì anh rồi. Nếu thương em thì khi em buồn và cần anh nhất thì anh đã ở bên cạnh em rồi. Nếu em cần những phút bình yên, anh sẽ đến ngồi kề bên em. Khi em khóc giọt nước mắt chứa chan, dẫu phong ba anh sẽ đến với em cho dù không làm em cười thì anh sẽ đến để đc khóc cùng em." Nếu thương em thì vào ngày quan trọng nhất của em anh đã không quên như thế. Anh sẽ không để em phải chờ điện thoại của anh và khóc thầm một mình như thế. Nếu thương em thì anh còn có thể làm nhiều hơn thế phải không anh? Không phải như bây giờ. Khi em thương một người em sẽ thấy buồn khi thấy người đó buồn, em sẽ rất vui khi thấy người đó cười. Khi thương một người em sẽ ở bên cạnh người đó khi người đó cần một bờ vai khi mệt mỏi, khi người đó cần một cái nắm tay để mạnh mẽ hơn... Anh có biết trái tim em như thắt lại khi nhìn thấy người em thương gầy đi vì vất vả không anh. Anh có biết em lo lắng cho người đó nhiêù lắm khi người đó ốm mà không có em bên cạnh không anh? Vậy mà đáp lại em chỉ là im lặng. Sự im lặng làm em thấy sợ. Em không hiểu gì cả, hãy cho em một câu trả lời rõ ràng được không anh? Em mệt mỏi lắm rồi, em không muốn mình thế này nữa. Thực sự trong lòng anh lúc này đang nghĩ gì vậy anh, hãy cho em biết đi anh? Trong trái tim anh có em không anh?
HoaCoMayTim
Chủ nhật, 05/07/2009 - 04:58:am
|
Tượng Sơn Đồng, nhất là tượng Phật - không những vang danh cả nước mà còn vang xa đến nhiều nước trên thế giới. Đến đây, người ta nghe tiếng đục đẽo lách cách khắp làng. Không giống như những làng nghề chỉ toàn người già cố giữ nghề Tổ, Sơn Đồng quy tụ được những lớp trẻ kế thừa với tay nghề ngày càng tinh xảo, có em bé mới 3 tuổi đã tập tành cắc cụp. Thợ Sơn Đồng quanh năm suốt tháng miệt mài tạo nên những pho tượng, họa phẩm từng ăn sâu trong thế giới tâm linh con người: những pho A-di-đà, Di lặc, thần Tài, những bức hoành phi câu đối… Nhìn những sản phẩm của họ, ta dễ liên tưởng đến nét tài hoa của các nghệ nhân đã tạo nên các pho La Hán ở chùa Tây Phương, tượng Phật Bà ở chùa Keo có một không hai…
Năm 1956, HTX thủ công nghiệp Sơn Đồng ra đời, ứng với 5 nghề truyền thống. Hai nhóm nghề chạm khắc gỗ, sơn mài phải trải nhiều bước thăng trầm nhất. Thời bao cấp, với quan niệm chống mê tín dị đoan, nghề gần như không phát huy được, thậm chí còn bị lãng quên. Những nghệ nhân, thợ giỏi có tâm huyết trong làng thực sự băn khoăn lo lắng. Làm thế nào để nghề truyền thống đã tồn tại trên 1000 năm nay không bị mai một là một "câu hỏi lớn không lời đáp", dù họ đã phải trăn trở rất nhiều. Phải mãi sau này, tới năm 1983, gần thời kỳ đổi mới, ông Nguyễn Đức Dậu, nghệ nhân từ thời thuộc Pháp mới làm được một việc có tính chất quyết định. Ông đứng ra tổ chức lớp học nghề chạm khắc gỗ và sơn mài, cốt truyền nghề cho con cháu. 34 học viên ngày đó, bây giờ người là thợ giỏi, người là giáo viên, đang tiếp tục truyền nghề cho lớp trẻ trong làng, trong xã.
Xưởng nhà nghệ nhân Nguyễn Viết Thạc ở xóm Đình lúc nào cũng rộn vang tiếng đục đẽo. Cụ Thạc bộc bạch: "Tôi theo nghề từ năm 11 tuổi, mấy chục năm qua, rất nhiều thay đổi thời thế, tôi vẫn tự hào là đã tạc được hàng trăm pho tượng có giá trị cung cấp cho các chùa Quán Sứ, Liên Phái, Trấn Quốc, Hương Ký (Hà Nội), chùa Hương, chùa Trăm Gian (Hà Tây cũ) và nhiều chùa khác trong nước". Gia đình cụ Thạc có hàng chục người theo nghề chạm khắc gỗ và sơn mài.
Toàn xã Sơn Đồng hiện có trên 1.600 hộ (chừng 7.500 nhân khẩu), mỗi hộ có ít nhất một người biết nghề chạm khắc gỗ. Những gia đình đã làm nghề này từ nhiều đời là của các nghệ nhân Nguyễn Viết Thạc xóm Đình, Nguyễn Bá Khẩn ở xóm Rảnh, anh Trần Quang Khang ở xóm Hân… Ngoài nghề chính chạm khắc gỗ, sơn mài, nhiều gia đình còn phát triển các nghề dệt lụa, thêu ren, chế biến nông sản… Đục đẽo chí chát, người Sơn Đồng không bỏ ruộng, nghề nông vẫn đủ lương thực cho dân.
Sơn Đồng đang mở mang. Cán bộ xã cho biết, tháng 10-2003, một lớp học chạm khắc và sơn mài được mở, học viên chủ yếu ở độ tuổi 12-16, đều là con nhà nghèo, trẻ tàn tật, mồ côi; phần lớn kinh phí do Tổ chức nhân đạo phi chính phủ Maryknoll (Mỹ) tài trợ. Anh Trần Quang Khang, một cựu học viên năm xưa nay là thầy dạy thực hành cho biết: "Trong thời gian 18 tháng, các em vừa học nghề lại vừa học văn hóa (có 50% số các em chưa học hết phổ thông cơ sở). Chính vì vậy mà cả thầy và trò đều phải nỗ lực rất nhiều, để sau này các em có thể hành nghề nuôi sống bản thân, trợ giúp gia đình".
Việc mở lớp học nghề kể trên có ý nghĩa rất to lớn, nhất là đối với các em con nhà nghèo, trẻ tàn tật, mồ côi. Nhiều bậc phụ huynh bộc bạch, nếu như phải bỏ tiền túi ra cho con ăn học thì đến mạt kiếp chúng cũng không thể có nghề, bởi làm gì có tiền. Nhờ có lớp học nghề này, cùng với các lớp học không chính khóa khác như kinh nghiệm truyền tay, tự học… các em không phải đi lang thang kiếm sống bằng đủ thứ "nghề" nhếch nhác và hết sức bấp bênh. Điều quan trọng từ việc mở các lớp học là tạo công ăn việc làm cho thanh niên trong những lúc nông nhàn và duy trì nghề truyền thống không bị mai một.
Sơn Đồng không "điển hình" cho các làng nghề tạc tượng gỗ bởi nó thiên về tạc tượng Phật. Trước tiên, ta quan sát từng bước gia công của các nghệ nhân Sơn Đồng. Từ việc đục phá một khối gỗ, tách bỏ phần thừa để "lấy ra" một pho tượng - là một quá trình sáng tạo đầy sức hấp dẫn. Cũng có thể thấy rằng những tỷ lệ, những quy chuẩn đã thẩm định không được các làng nghề "nhất nhất đồng quy". Ngay ở Sơn Đồng, mỗi nghệ nhân, ngoài công thức chung kế thừa của một làng nghề cũng có những thủ pháp, những bí truyền với cách "chia" tỷ lệ không hoàn toàn giống nhau. Một nghệ nhân chỉ pho Phật Bà Quan Âm đang đục dở nói với tôi: Chúng tôi "đục" Phật Bà ngồi thường là 4 diện (khuôn mặt tính từ chân tóc tới cằm gọi là "mặt diện". Trong giải phẫu tạo hình hiện đại gọi là "một đầu". Nhưng cũng có khi, Phật ngồi chỉ có 3 diện rưỡi, hoặc có khi 4 diện rưỡi. Còn ông này (chỉ một pho tượng đứng) chúng tôi "dựng" 7 diện".
Anh Nguyễn Trung Thành đang cật lực tạo bức Phật Bà cao 3,5m cho một chùa ở Tây Nguyên và một bức Di Đà cao 4,5m - kỷ lục của làng từ trước đến nay - cho một chùa ở Hải Dương. Thành bật mí: "Những bức tượng lớn này khi ra thành phẩm, giá lên tới trên 100 triệu đồng. Nhờ qua trung gian mà tụi em có được công trình này. Hàng chủ yếu do khách từ các đình, chùa thập phương đến đặt, số còn lại từ nguồn trung gian cung cấp, cả xưởng có hơn 10 thợ, chẳng bao giờ lo thiếu việc".
Thế mạnh của Sơn Đồng là chuyên về các loại tượng thờ. Thợ đa phần khá trẻ nhưng đã bôn ba khắp đất nước để thể hiện tay nghề của mình trong làng tượng nói chung. Những tượng Phật cao từ 3m đến 4m được các "đại gia" đặt cúng tiến phần lớn có giá trên 100 triệu đồng. Nguyễn Doãn Vĩnh, lứa thợ thứ hai của làng, vào nghề năm 1992 (mới 16 tuổi), nay là một trong những thợ trẻ có tay nghề vững cho biết: "Làng nhận hợp đồng tượng ở khắp nơi, chủ yếu là đình, chùa, khách về thăm xưởng rồi làm hợp đồng đưa thợ đến tận nơi làm công trình, đục đẽo tượng xong về lại làng làm hàng chợ bán. Nguồn vật liệu chính tạc tượng Phật được lấy từ gỗ mít, rụt, vàng tâm...". Xưởng của Vĩnh đã cung cấp sản phẩm tới Hải Phòng, Yên Bái, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Thọ... ngoài ra còn xuất khẩu sang Hàn Quốc và thị trường châu Âu.
Sơn Đồng hôm nay đã khác xưa rất nhiều. Những ngôi trường khang trang lần lượt ra đời; những tòa nhà cao tầng, nhà mái bằng mọc lên từng ngày. Đường vào làng, rẽ xóm được bê tông hóa. Cảnh vật thiên nhiên toát lên vẻ trù phú ấm no. Trong dòng làm ăn tấp nập hôm nay, thật khó để hình dung đã có lúc người Sơn Đồng hoang mang nghĩ nghề làng khéo phải thất truyền...
Theo HNM (22/06/2009)
|
Chủ nhật, 05/07/2009 - 04:53:am
Tự do như những cánh chim trời
TTO - Không ít bạn trẻ tiềm ẩn giấc mơ bay được như chim trên trời cao. Giờ đây với chiếc dù lượn, nhiều bạn trẻ đã có thể thực hiện giấc mơ tuyệt vời đó.
Dù lượn - ước mơ trở thành hiện thực
Dù lượn (paragliding) là một môn thể thao hàng không giải trí nhưng cũng không kém phần cạnh tranh mang tính chuyên nghiệp. Người nhảy dù ngồi vào một ghế ngồi được may bằng những dây đai bền chắc, bên dưới một cánh dù làm bằng vải, được bơm căng đầy không khí để giữ hình dáng nhờ vào áp lực không khí khi dù di chuyển.
|
Dù lượn được phát minh năm 1954 bởi Walter Neumark. Sau đó, các tiến bộ về vật liệu, công nghệ và tính toán làm cho dù lượn dần dần thu hút được rất nhiều người quan tâm và tham gia. Giải vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại Kossen, Áo năm 1989. |
Người chơi dù lượn thường chạy từ một sườn núi rồi cất cánh bay lên, cũng có thể nhảy ra từ máy bay trực thăng, khinh khí cầu...
Kỹ thuật cất cánh có hai kiểu: cất cánh xuôi (forward launching) thường dùng ở những điểm bay có gió yếu hoặc không có gió, cất cánh ngược (reverse launching) thường dùng ở những điểm bay có gió tốt.
Bay dù lượn có hai kỹ thuật: bay "cặp vách núi" (ridge soaring) và bay theo cột khí nóng (thermal) - cánh dù lượn vòng tròn quanh một cột khí nóng, tận dụng lực nâng của nó.
Những bạn trẻ nhảy dù lượn Việt Nam
Dù lượn bắt đầu du nhập vào Việt Nam bởi những người Pháp, vào khoảng những năm 2000-2001 tại TP.HCM. Phong trào bắt đầu rộ lên năm 2003, và tính đến nay số người chơi dù lượn thường xuyên trên cả nước ước tính gần 100 người.
Đến năm 2006, với sự giúp đỡ nhiệt tình của Lê Hoàng Bách (Mékong Paragliding), nhóm những người yêu thích dù lượn tại Hà Nội đã có được tài liệu và trang thiết bị để tập luyện. Đầu năm 2007, nhóm dù lượn Hà Nội bắt đầu tập luyện dưới sự hướng dẫn của Lê Hoàng Bách. Ngày 19-2-2007 (mồng 3 Tết Đinh Hợi), các thành viên đã có chuyến bay đầu tiên tại Hòa Bình.
Các "phi công" dù lượn Việt Nam, bất kể nam nữ, với đủ các ngành nghề, độ tuổi khác nhau nhưng có cùng điểm chung là niềm ham thích với môn thể thao mạo hiểm nhưng vô cùng thú vị này.
An toàn là vấn đề được nhiều người cân nhắc trước khi đến với môn dù lượn. Họ thường cảm thấy có một mối nguy hiểm nào đó khi lao người vào khoảng không từ một sườn dốc. Nhưng với người đã chơi dù lượn, cảm nhận đó không... là gì!
Nói về dù lượn, anh Bùi Thái Giang (Hanoi Paragliding) vui vẻ chia sẻ những khó khăn cũng như cảm giác "phê" khi được thả mình theo gió: "Chơi dù lượn thật sự là vất vả, chưa kể còn phải nghiên cứu kỹ và sâu các vấn đề kỹ thuật liên quan đến bay dù lượn như thời tiết, khí tượng, khí động, kỹ thuật hàng không... Riêng về thể lực cũng đòi hỏi phải có sức khỏe và sức bền nhất định, đặc biệt là khi gặp phải những tình huống như: tự mang vác trang thiết bị (khoảng 15kg) leo lên điểm bay trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng 40-45 độ C. Tuy vậy, đổi lại là 15-20 phút hoặc hàng giờ lơ lửng trong không gian bao la, mát rượi".
Một chuyến bay
Tôi được theo chân đoàn bay của các thành viên trong CLB Hanoi Paragliding vào một buổi sáng nắng nóng đầu hè. Đoàn bay lần này có sáu thành viên, trong đó có một thành viên người Thụy Điển.
Địa điểm bay thường xuyên của CLB Hanoi Paragliding là vùng núi Viên Nam (Thạch Thất, Hà Nội), với địa hình tương đối thuận lợi cho việc cất cánh và hạ cánh của các phi công. Chúng tôi vượt qua quãng đường hơn 60km bằng xe máy, đến chân núi Viên Nam đã quá 12 giờ trưa.
Chúng tôi thu xếp đồ đạc rồi vội vàng leo núi để kịp đón gió chiều. Trời tuy nắng nóng, chưa ai trong đoàn ăn trưa nhưng mọi người đều cố gắng leo thật nhanh đến độ cao 300m. Khoảng hơn nửa tiếng sau chúng tôi đã có mặt tại độ cao 300m so với mực nước biển.
Trời nắng, gió yếu và không đều, gây khó khăn cho việc cất cánh. Một thành viên trong đoàn sau một hồi căn chỉnh, đã cất cánh bay khỏi sườn dốc. Tuy nhiên trời không có gió, anh không thể bay lên cao mà phải từ từ hạ cánh chỉ sau 5-10 phút. Cả đoàn quyết định leo cao hơn, đến độ cao 500m để đón được nhiều gió hơn.
Chúng tôi lại tiếp tục "hành quân", lên đến độ cao 500m. Thành viên Thụy Điển là người "bay" tiếp theo và cũng hạ cánh an toàn chỉ sau 5-10 phút. Mọi người đều lo lắng chờ đợi, hi vọng đến chiều sẽ có nhiều gió hơn, để có thể bay được cao và lâu hơn.
Anh Thắng và anh Bách, hai trong bốn phi công thành lập CLB Hanoi Paragliding, quyết định sẽ là những người tiếp theo cất cánh. Sau một hồi kiểm tra vòm dù, dây dù, các anh cất cánh khỏi mặt đất bằng những động tác nhẹ nhàng, kỹ thuật.
Thành viên tiếp theo và cũng là người cuối cùng là một cô gái: chị Trần Anh. Sinh năm 1980, mới tham gia "chơi" dù lượn khoảng một năm nay nhưng nhìn phong thái của chị chẳng thua kém gì các bậc đàn anh. Chị khiến tất thảy các thành viên còn lại ngạc nhiên và ghen tị khi là người bay trên trời lâu và cao nhất, khoảng 800-900m so với mực nước biển.
Khoảng 16g, chúng tôi lên xe trở về, kết thúc buổi bay lượn đầy ngẫu hứng và thăng hoa. Tôi đã hiểu vì sao những thành viên của Hanoi Paragliding tuần nào cũng vượt chặng đường đầy nắng bụi, leo núi vất vả như vậy để đổi lấy vài giờ bay. Bởi lẽ được bay trên bầu trời, chinh phục lực hút trái đất là ước mơ và khát vọng của con người từ ngàn đời.
Hơn nữa, đó còn là bản lĩnh khi chế ngự được nỗi sợ hãi để "dám" bay cao như những cánh chim trời.
KHẢ PHIÊU
SƯU TẦM
